Trang chủ Hướng dẫn nghiệp vụ STP

NGHIỆP VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
(Ngày đăng :22/07/2015 12:00:00 SA)

 
1. Khái niệm, vị trí, vai trò của tuyên truyền miệng trong phổ biến, giáo dục pháp luật
Tuyên truyền miệng về pháp luật là một hình thức tuyên truyền mà người nói trực tiếp nói với người nghe về lĩnh vực pháp luật trong đó chủ yếu là phổ biến, giới thiệu các quy định pháp luật nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghe, hướng cho người nghe hành động theo các chuẩn mực pháp luật.

Tuyên truyền miệng pháp luật có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhiều hình thức tuyên truyền khác; lồng ghép với các hình thức tuyên truyền khác và là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các hình thức tuyên truyền pháp luật. Điều đó được thể hiện như sau:

- Tuyên truyền miệng là một công đoạn không thể thiếu trong phần lớn các hình thức tuyên truyền pháp luật. Ví dụ: Tuyên truyền pháp luật thông qua công tác hòa giải ở cơ sở thì hòa giải viên vẫn phải trực tiếp nói cho người được hòa giải về các nội dung pháp luật có liên quan.

- Tuyên truyền miệng pháp luật là hình thức chủ yếu được thực hiện thông qua hội nghị, hội thảo, tập huấn, sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật; là biện pháp chủ yếu của phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo nói, báo hình, qua mạng lưới truyền thanh cơ sở.

- Trong việc thực hiện tuyên truyền miệng pháp luật, báo cáo viên phải sử dụng lồng ghép với các hình thức tuyên truyền pháp luật khác, ví dụ như: trước khi tuyên truyền, báo cáo viên cần phải biên soạn đề cương mà giá trị của nó được coi như là tài liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật; trong khi tuyên truyền miệng, báo cáo viên sử dụng các hình ảnh minh họa có giá trị như là tuyên truyền thông qua tranh ảnh trực quan.

- Tuyên truyền miệng là hình thức tuyên truyền linh hoạt, có nhiếu ưu thế, có thể tiến hành ở bất cứ nơi nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào với số lượng người nghe không bị hạn chế. Khi thực hiện việc tuyên truyền miệng, người nói có đủ điều kiện thuận lợi để giải thích, phân tích, sáng tỏ nội dung cần tuyên truyền.

2. Quy mô và đối tượng của tuyên truyền miệng pháp luật

Quy mô của tuyên truyền miệng pháp luật rất đa dạng. Có thể tổ chức dưới dạng hội nghị, lớp tập huấn, các buổi nói chuyện chuyên đề thu hút nhiều người nghe hoặc có thể tổ chức dưới hình thức tuyên truyền miệng cá biệt chỉ có một hoặc vài ba người.

Đối tượng của tuyên truyền miệng rất phong phú cho đủ mọi thành phần: cán bộ, trí thức, công nhân, nông dân, doanh nhân, phụ nữ, người cao tuổi, thanh thiếu niên...Như vậy, đối tượng của tuyên truyền miệng là bất cứ người nào trong xã hội đang cần được tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

Trên cơ sở 3 tiêu chí chính: Đối tượng, quy mô và không gian, người nói cần lưu ý nghiên cứu tâm lý người nghe trong các lớp tập huấn, các buổi nói chuyện chuyên đề, các buổi họp, các buổi tuyên truyền cá biệt.

1.2.Phương thức tổ chức một số hình thức tuyên truyền miệng pháp luật   

1. Mở các lớp tập huấn

Nội dung tập huấn có thể là một văn bản pháp luật quan trọng kèm theo văn bản hướng dẫn thi hành hoặc nhiều văn bản pháp luật độc lập. Những văn bản pháp luật này có thể là văn bản tuyên truyền lần đầu hoặc là văn bản được tuyên truyền lặp lại. Học viên của lớp tập huấn là những báo cáo viên, biên tập viên, phóng viên, cán bộ thi hành pháp luật, cán bộ quản lý trong lĩnh vực văn bản điều chỉnh.

Ở các lớp tập huấn, giảng viên không chỉ giới thiệu về các nội dung cơ bản của văn bản mà phải đi sâu vào những vấn đề liên quan đến các lĩnh vực nghiệp vụ nhất định: thẩm quyền của các chủ thể, các biện pháp quản lý, thủ tục tiến hành các công việc. Chú trọng đổi mới phương pháp tập huấn, kết hợp phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại, lấy người học là trung tâm, áp dụng phương pháp tích cực, mọi người cùng tham gia, có sự trao đổi qua lại giữa học viên và giảng viên, huy động tính tích cực tham gia của học viên, giảng viên chỉ là người hướng dẫn, định hướng cho học viên vừa học lý thuyết vừa thực hành; kết hợp với các phương tiện hỗ trợ như tranh ảnh, băng hình để buổi tập huấn sinh động, người học dễ tiếp thu, thuộc bài ngay tại lớp và biết vận dụng thành thạo trong thực tiễn

Việc tổ chức các lớp tập huấn có thể ở quy mô lớn (mấy trăm người) cũng có thể ở quy mô nhỏ (mấy chục người). Lưu ý cần bố trí thời gian để triệu tập được đúng, đủ học viên, có quy chế để việc học tập được nghiêm túc. Cũng cần tổ chức viết thu hoạch hoặc kiểm tra, tổ chức đánh giá kết quả tập huấn (qua phiếu, phỏng vấn trực tiếp…), cấp chứng chỉ để kích thích ý thức và tinh thần học tập của học viên. Về hình thức nên có trang trí, khai mạc, bế mạc để lớp học trang trọng và tăng tính hiệu quả.

2. Nói chuyện chuyên đề về pháp luật

Một buổi nói chuyện chuyên đề về pháp luật thường là một buổi nói về một lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quản lý... gắn với một số chế định, ngành luật. Một buổi nói chuyện chuyên đề thường không đóng khung trong phạm vi pháp luật, trong khuôn khổ một vấn đề khép kín mà mở ra nhiều lĩnh vực có liên quan, nhiều hướng suy nghĩ. Chính vì thế, các buổi nói chuyện chuyên đề thường thu hút được đông đảo báo cáo viên pháp luật, cán bộ nghiên cứu, cán bộ xây dựng pháp luật, cán bộ tuyên truyền pháp luật, hòa giải viên, thành viên các Câu lạc bộ pháp luật... tham gia.

Báo cáo viên trong các buổi nói chuyện chuyên đề phải là người có kiến thức chuyên ngành sâu rộng về lĩnh vực được trình bày và am hiểu pháp luật.

Khi tổ chức một buổi nói chuyện chuyên đề nói chung và chuyên đề pháp luật nói riêng, người ta thường gắn vào các sự kiện chính trị, thời sự, những ngày có ý nghĩa lịch sử...

3. Lồng ghép việc tuyên truyền pháp luật vào một buổi họp

Do đối tượng dự, buổi họp rất đa dạng, có thể là cán bộ, công chức; người quản lý doanh nghiệp; người lao động; người dân ở thôn, bản, tổ dân phố, cho nên tùy từng đối tượng mà người tuyên truyền lựa chọn nội dung pháp luật để lồng ghép cho phù hợp. Nội dung pháp luật được truyền tải có thể trên cơ sở kế hoạch của cấp trên hoặc có thể do cán bộ tuyên truyền đề xuất trên cơ sở tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương.

Khi lồng ghép nội dung pháp luật vào một buổi họp, điểm quan trọng bậc nhất là cách đặt vấn đề với người nghe. Cần đặt vấn đề sao cho người nghe thấy rằng vì sự quan trọng và cấp thiết của việc tuyên truyền văn bản pháp luật lồng ghép vào hội nghị, cuộc họp này chứ không phải “nhân thể” hội nghị, cuộc họp này mà phổ biến văn bản. Nếu có thể được, người nói công bố việc tuyên truyền pháp luật là một nội dung trong chương trình cuộc họp hoặc công bố chương trình cuộc họp trước cho người dự cuộc họp. Một việc quan trọng nữa là xác định thời điểm, bối cảnh để phổ biến pháp luật sao cho hợp lý nhất để người nghe dễ tiếp thu và tạo không khí thoải mái cho người nghe. Qua đó, việc lồng ghép tuyên truyền pháp luật vào cuộc họp sẽ đạt được hiệu quả cao hơn.

4. Tuyên truyền miệng cá biệt

Tuyên truyền miệng cá biệt là hình thức tuyên truyền miệng về pháp luật mà đối tượng (người nghe) chỉ có một hoặc vài ba người. Nếu như tuyên truyền trong hội nghị cung cấp cho người nghe hiểu biết chung về pháp luật thì tuyên truyền cá biệt thường cung cấp cho người nghe những nội dung pháp luật cụ thể; vận dụng pháp luật trong những trường hợp, hoàn cảnh cụ thể mà người nghe đang quan tâm. Hình thức tuyên truyền này thường được sử dụng trong trường hợp người thừa hành pháp luật làm việc với đối tượng của mình; người tư vấn pháp luật hướng dẫn, giải thích cho người được tư vấn; cán bộ trợ giúp pháp lý hướng dẫn, trợ giúp pháp luật cho người được trợ giúp...

Trong tuyên truyền cá biệt, người nói thường ở vị trí “có lợi” đối với người nghe. Nhưng không vì thế mà trong khi thực hiện nhiệm vụ, người nói có thái độ áp đặt, lời nói mệnh lệnh đối với họ mà phải làm cho họ thực sự hiểu, tin, tôn trọng pháp luật, từ đó tự giác tuân thủ pháp luật. Muốn vậy người nói phải căn cứ từng đối tượng mà có biện pháp tuyên truyền thích hợp; tìm hiểu sâu hoàn cảnh, truyền thống của gia đình họ, vận dụng đạo lý, phong tục, tập quán, mục đích, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật để giải thích, thuyết phục họ.

Để chuẩn bị cho buổi tuyên truyền cá biệt đạt kết quả, cán bộ làm công tác tuyên truyền pháp luật cần chuẩn bị các nội dung sau đây:

- Các quy định pháp luật liên quan đến sự việc của đương sự;

- Dự kiến tình huống, câu hỏi mà đương sự có thể hỏi, chất vấn;

- Phong tục, tập quán ở địa phương, đạo lý và những kiến thức xã hội có thể phải vận dụng;

- Nhân thân đương sự: Hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của đương sự trước đây; điều kiện, hoàn cảnh, truyền thống gia đình, nguyện vọng ... của đương sự.

Khi tuyên truyền cá biệt đòi hỏi phải vận dụng kỹ năng tuyên truyền miệng hết sức tinh tế. Người nói còn phải là người nhạy cảm, tâm lý và có kinh nghiệm trong công tác này. Bên cạnh đó, để thuyết phục người nghe, tin ở pháp luật thì người nói phải thể hiện để người nghe tin mình là một cán bộ, công chức tốt (không có biểu hiện tham nhũng, cửa quyền, hách dịch, gây phiền hà, có trách nhiệm với công việc, liêm khiết...). Trong khi tuyên truyền miệng cá biệt, những quy tắc tuyên truyền hội nghị không thể áp dụng một cách cứng nhắc, thậm chí học hàm, học vị, chức vụ... của người nói không có ý nghĩa lớn đối với người nghe.

Điều quan trọng nhất là người nói phải tạo được lòng tin, sự tôn trọng của người nghe; làm sao để người nghe tin rằng vận dụng pháp luật vào điều kiện, hoàn cảnh này là hoàn toàn chính xác. Như vậy, nếu một buổi tuyên truyền pháp luật ở hội nghị nhằm đạt yêu cầu chung là nâng cao niềm tin, hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật cho người nghe bằng cách cung cấp các hiểu biết, nhận thức chung về pháp luật cho họ thì tuyên truyền cá biệt có mục đích cao hơn là thông qua việc vận dụng pháp luật vào một hoàn cảnh, sự việc cụ thể để nâng cao niềm tin, ý thức chấp hành pháp luật của người nghe. Để đạt được mục đích, yêu cầu này người nói không những phải am hiểu pháp luật, hiểu biết đời sống xã hội mà phải có sự cảm thông sâu sắc với cuộc sống của đối tượng. Đôi khi, trong quá trình tuyên truyền cá biệt người nói cần phải tâm sự chân tình, chia sẻ với người nghe về hoàn cảnh của họ; có những lời khuyên, động viên một cách chân thành, tình cảm để tạo sự tin tưởng, yêu mến của người nghe với mình. Đó là những yếu tố cơ bản để thuyết phục đối tượng.

1.3.Kỹ năng tuyên truyền miệng về pháp luật   

 

1. Gây thiện cảm ban đầu cho người nghe

Việc gây thiện cảm ban đầu cho người nghe rất quan trọng. Thiện cảm ban đầu thể hiện ở nhân thân, tâm thế và biểu hiện của người nói khi bước lên bục tuyên truyền. Danh tiếng, phẩm chất đạo đức, học hàm, học vị, chức vụ của người nói là nguồn thiện cảm ban đầu cho người nghe; kích thích người nghe háo hức chờ đón buổi tuyên truyền. Thiện cảm ban đầu tạo ra sự hứng thú, say mê của người nghe, củng cố được niềm tin về vấn đề đang tuyên truyền. Thiện cảm ban đầu còn được tạo ra bởi khung cảnh của hội trường, khung cảnh của diễn đàn, dáng vẻ bề ngoài, y phục, nét mặt, cử chỉ, phong thái, lời giao tiếp ban đầu. Như vậy, báo cáo viên cần phải tươi cười bao quát hội trường, có lời chào mừng, chúc tụng, có câu mở đầu dí dỏm, hài hước, công bố thời gian, chương trình làm việc rõ ràng, thoải mái... sẽ gây được thiện cảm ban đầu đối với người nghe. Thế nhưng, thiện cảm ban đầu chủ yếu là ở cách đặt vấn đề đầu tiên của người nói. Trong những phút đầu tiên của bài giới thiệu, người nói phải nêu được khoảng từ 3, 4 vấn đề chủ yếu mà người nghe cần tìm hiểu nhất. Ví dụ khi tuyên truyền cho đối tượng là công nhân về Bộ luật Lao động thì các vấn đề mà công nhân quan tâm nhất là hợp đồng lao động; bảo hộ lao động; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương; bảo hiểm xã hội... Việc nêu các vấn đề đó còn tuỳ thuộc ở khả năng thuyết trình của báo cáo viên. Báo cáo viên có thể bắt đầu từ một câu chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đại chúng nói đến nhiều thời gian qua hoặc có thể bắt đầu từ một bộ phim đã chiếu khá phổ biến hoặc cũng có thể bằng các tình huống xảy ra gần địa bàn nơi tổ chức tuyên truyền...

2. Tạo sự hấp dẫn, gây ấn tượng trong khi nói

Nghệ thuật tuyên truyền là tạo nên sự hấp dẫn, gây ấn tượng bằng giọng nói, điệu bộ, ngôn ngữ. Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc nhưng truyền cảm. Hết sức tránh lối nói đều đều. Giọng nói, âm lượng phải thay đổi theo nội dung và nhấn mạnh vào những điểm quan trọng, cần phải chú ý. Động tác, cử chỉ cần phải phù hợp với nội dung và giọng nói để nâng cao hiệu quả tuyên truyền của lời nói. Sắc thái có tác dụng truyền cảm rất lớn. Vẻ mặt của người nói cần thay đổi theo diễn biến của nội dung. Khi nói, cần chú ý nhìn vào một nhóm người ngồi dưới, thỉnh thoảng người nói cần thay đổi vị trí nhìn để tạo sự chú ý của cử tọa. Người nói cần đưa ra số liệu, sự kiện để minh hoạ, đặt câu hỏi để tăng thêm sự chú ý của người nghe.

Người nói cũng cần phát huy vai trò thông tin, truyền cảm của ngôn ngữ bằng cách sử dụng chính xác, đúng mực thuật ngữ pháp lý, thuật ngữ chuyên ngành và ngôn ngữ phổ thông. Người nói có thể kết hợp, lồng ghép, sử dụng hợp lý, chính xác ý tứ, ngôn từ trong kinh điển, thơ văn, ca dao, dân ca vào buổi tuyên truyền pháp luật để tăng tính hấp dẫn, thuyết phục đối với người nghe.

3. Bảo đảm các nguyên tắc sư phạm trong tuyên truyền miệng

Người nói cần tôn trọng các nguyên tắc sư phạm. Từ bố cục bài nói, diễn đạt các đoạn văn, liên kết giữa các đoạn văn đến cách nói đều phải rõ ràng, mạch lạc, lôgic. Người nghe cần được dẫn dắt từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa (phương pháp suy diễn) hoặc từ xa đến gần (phương pháp quy nạp) và tuỳ từng vấn đề mà dùng lý luận soi sáng cho thực tiễn hoặc từ thực tiễn mà đi sâu vào lý luận. Mục đích cuối cùng vẫn là để người nghe hiểu rõ hơn, toàn diện hơn về những vấn đề mà người nói đã nêu ra. Tuy nhiên dù phân tích, diễn giải rộng hay hẹp đều phải luôn bám sát trọng tâm của vấn đề.

4. Sử dụng phương pháp thuyết phục trong tuyên truyền miệng

Tuyên truyền miệng về pháp luật chủ yếu dùng phương pháp thuyết phục với ba bộ phận cấu thành là chứng minh, giải thích và phân tích.

- Chứng minh là cách thuyết phục chủ yếu dựa vào các dẫn chứng xác thực, khách quan để làm sáng tỏ và xác nhận tính đúng đắn của vấn đề. Các dẫn chứng đưa ra gồm số liệu, sự kiện, hiện tượng, nhân chứng, danh ngôn, kinh điển. Để có sức thuyết phục, các dẫn chứng được đưa ra phải chính xác, tiêu biểu, toàn diện và sát hợp với vấn đề nêu ra.

- Giải thích là việc dùng lý lẽ để giảng giải giúp người nghe hiểu rõ và hiểu đúng vấn đề. Lập luận trong khi giải thích phải chặt chẽ, chính xác, mạch lạc, khúc triết, không ngụy biện.

- Phân tích là diễn giải, đánh giá vấn đề nhằm tìm được đặc điểm, bản chất, điểm mạnh, điểm yếu, điểm tốt, điểm xấu, sự phù hợp, không phù hợp... của vấn đề. Việc phân tích phải dựa trên cơ sở khoa học, không được cường điệu mặt này hay hạ thấp mặt kia. Sau khi phân tích phải có kết luận, đánh giá, hướng người nghe vào định hướng tư duy đúng đắn, không làm cho người nghe hoài nghi, dao động, hoang mang.

5. Các bước tiến hành một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật

Để có một buổi tuyên truyền miệng pháp luật cần qua 2 bước:

5.1. Bước chuẩn bị: gồm 5 nội dung chính sau đây :

- Nắm vững đối tượng truyên truyền: Báo cáo viên cần nắm vững đối tượng tuyên truyền qua các yếu tố về số lượng; thành phần (trí thức, công nhân, nông dân, học sinh, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, phụ lão...); trình độ văn hoá; tình hình thực hiện pháp luật ở cơ sở; ý thức thực hiện pháp luật và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của đối tượng.

Báo cáo viên có thể nắm vững đối tượng bằng phương pháp trực tiếp (tự điều tra, tìm hiểu, gặp gỡ, quan sát...) hoặc bằng phương pháp gián tiếp (qua tài liệu, sách báo, báo cáo tổng kết, trao đổi với người tổ chức buổi tuyên truyền...). Cần có thông tin đầy đủ từ phía cơ quan tổ chức tuyên truyền về thành phần dự. Chú ý những thay đổi có thể diễn ra về thành phần người nghe.

- Nắm vững vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh: Đó là các vấn đề về kỹ thuật nghiệp vụ chuyên ngành, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực đó, các tài liệu lý luận, giáo khoa, các tài liệu của nước ngoài trong lĩnh vực đó. Để nắm vững vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh đòi hỏi báo cáo viên ngoài trình độ chuyên môn tốt cần phải có quá trình tích lũy, sưu tầm với một ý thức trách nhiệm và lòng say mê với nghề nghiệp.

- Nắm vững nội dung văn bản, cụ thể là hiểu rõ bản chất pháp lý của vấn đề được văn bản điều chỉnh, sự cần thiết phải ban hành văn bản; hiểu rõ đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh của văn bản; hiểu rõ ý nghĩa của các quy phạm, đặc biệt là ý nghĩa về mặt quản lý Nhà nước, về tác dụng điều chỉnh của từng quy phạm cụ thể; nghiên cứu các văn bản hướng dẫn thi hành, tài liệu hướng dẫn tuyên truyền và hệ thống văn bản điều chỉnh lĩnh vực đó.

Muốn vậy, người nói cần nắm được thông tin liên quan đến văn bản từ giai đoạn soạn thảo, lấy ý kiến đến khi ban hành (tờ trình về dự án Luật, các báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia xây dựng Luật...). Như vậy, người nói phải nắm được một cách toàn diện không những nội dung văn bản mà còn cả những vấn đề có liên quan đến việc ra đời và triển khai văn bản đó, cụ thể cần nắm vững tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của việc ban hành các văn bản đó thông qua các nghị quyết của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội hoặc trực tiếp hơn là qua tờ trình về việc ban hành văn bản, qua các bài báo, bình luận khoa học về văn bản. Ngoài ra, trong quá trình tuyên truyền, người nói cũng cần giới thiệu có chọn lọc ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động thực tiễn liên quan đến văn bản đó.

- Sưu tầm tài liệu dẫn chứng, minh họa: Đây là nội dung rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chất lượng, độ sâu và sức thuyết phục của buổi tuyên truyền. Tài liệu, dẫn chứng minh họa có tính chính thức, độ tin cậy cao, có thể được sưu tầm trên Báo Nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam... hoặc các tạp chí chuyên ngành; các công trình khoa học đã được công bố; bài viết trên các báo, đặc san khoa học; số liệu, dẫn chứng trên các trang thông tin điện tử (trang Web) cần được lựa chọn phù hợp. Khi sưu tầm tài liệu, báo cáo viên cần chú ý đến tính chất, yêu cầu của tài liệu đó, tuyệt đối tránh tài liệu, dẫn chứng minh họa thuộc diện mật của Đảng và Nhà nước; số liệu, dẫn chứng đã cũ không còn phù hợp với hiện tại.

- Chuẩn bị đề cương: Đề cương tuyên truyền miệng (bao gồm đề cương sơ bộ và đề cương chi tiết) cần đầy đủ về nội dung, thích hợp với đối tượng, chặt chẽ về bố cục, sắc sảo về lập luận. Khi chuẩn bị đề cương cần chú ý những yêu cầu sau:

+ Đề cương không phải là một bài viết hoàn chỉnh, cụ thể mà là tài liệu nêu lên các trọng tâm cần tập trung tuyên truyền, phổ biến. Trên cơ sở đó, báo cáo viên phân tích cụ thể, mở rộng những vấn đề nêu trong đề cương. Đề cương tuyên truyền có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức triển khai tuyên truyền văn bản pháp luật cho phù hợp với từng loại đối tượng, trên từng địa bàn.

+ Cần lựa chọn vấn đề cốt lõi của văn bản có liên hệ với hệ thống pháp luật để làm rõ mối quan hệ của văn bản với hệ thống pháp luật.

+ Để thu hút người nghe và tạo điều kiện cho người nghe hiểu văn bản có tính hệ thống, toàn bộ các phần trong đề cương phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau như một câu chuyện là: yêu cầu, nhiệm vụ của văn bản; cơ chế quản lý như thế nào; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể ra sao; chế tài áp dụng đối với người vi phạm thế nào... để sao cho đạt được yêu cầu, nhiệm vụ cần tuyên truyền.

5.2. Tiến hành một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật

Một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật thường có các phần sau:

- Vào đề: Là phần giới thiệu vấn đề, định hướng tư duy, khơi gợi nhu cầu của đối tượng, thiết lập quan hệ giữa người nói với người nghe. Với tuyên truyền miệng về pháp luật, cách vào đề có hiệu quả thường là gợi ra nhu cầu tìm hiểu ý nghĩa, sự cần thiết phải ban hành văn bản pháp luật.

Trước khi bắt đầu phần này, báo cáo viên cần có những lời chào mừng, chúc tụng đối với người nghe để gây thiện cảm và không khí gần gũi. Trong phần vào đề, người nói phải nêu được khoảng từ 3, 4 vấn đề chủ yếu mà người nghe cần tìm hiểu nhất để tạo sự chú ý, sức hấp dẫn cho người nghe (như đã trình bày ở điểm 3.1). Việc nêu các vấn đề đó còn tuỳ thuộc ở khả năng diễn thuyết của báo cáo viên. Báo cáo viên có thể bắt đầu từ một câu chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đại chúng nói đến nhiều thời gian qua; có thể bằng các tình huống xảy ra gần địa bàn nơi tổ chức tuyên truyền hoặc một câu chuyện có liên quan mà tình cờ báo cáo viên biết được qua trao đổi trước buổi tuyên truyền với một số người nghe...

- Nội dung: Là phần chủ yếu của buổi nói, làm cho đối tượng hiểu, nắm được nội dung, chuyển biến nhận thức, nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng. Cần lưu ý là phải nêu được những điểm mới, thời sự để người nghe chú ý; khi tuyên truyền không được sao chép, đọc nguyên văn văn bản để tránh sự nhàm chán. Khi giảng cần phân tích, giải thích và nêu ý nghĩa của văn bản pháp luật đó. Viết, đọc một đoạn nào đó trong văn bản chỉ có tính chất dẫn chứng, minh họa những gì mà người nói đã phân tích, dẫn chứng ở trước.

Trong tuyên truyền văn bản phải chú ý tới hai điều, đó là: lựa chọn cách trình bày phù hợp với đối tượng và nêu được vấn đề cơ bản, cốt lõi, trọng tâm để người nghe thâu tóm được tinh thần văn bản. Sử dụng hợp lý kênh ngôn ngữ (nói) và kênh phi ngôn ngữ (cử chỉ, động tác).

Đối tượng tuyên truyền miệng rất phong phú nhưng có thể chia thành 4 loại: Cán bộ quản lý; cán bộ nghiên cứu, xây dựng văn bản; cán bộ tuyên truyền; những người phải chấp hành pháp luật (cán bộ, nhân dân). Trên cơ sở sự phân loại đó, báo cáo viên có thể xác định được mục đích, yêu cầu, nội dung trọng tâm, phương pháp trình bày cho phù hợp với từng đối tượng, cụ thể là:

+ Với cán bộ quản lý: Báo cáo viên cần xác định người nghe là cán bộ quản lý ở cấp nào để có thể có phương pháp trình bày thiên về khái quát hoặc diễn giải; thiên về lý luận hoặc thực tiễn. Đối với người nghe là cán bộ quản lý cấp tỉnh thì người nói có thể trình bày vấn đề thiên về khái quát có kết hợp phân tích, diễn giải; nhưng nếu người nghe là cán bộ cấp xã thì người nói cần phải sử dụng phương pháp suy diễn, phân tích cụ thể về thực tiễn rồi sau đó khái quát thành những đánh giá, lý luận. Người nói cần làm rõ những quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ nhà nước; nội dung quản lý nhà nước; các hình thức vi phạm và mức độ xử lý; thẩm quyền xử lý; tổ chức thi hành văn bản...

+ Với cán bộ nghiên cứu, xây dựng văn bản: Phương pháp khái quát thường đạt hiệu quả tuyên truyền cao vì đối tượng này có trình độ, thường quan tâm đến những quan điểm, những vấn đề lý luận chứa đựng trong văn bản. Ngoài ra báo cáo viên cần làm rõ: văn bản đã đáp ứng được những nhu cầu, đòi hỏi thực tiễn nào, những gì còn hạn chế, chưa đáp ứng được; những gì đã thống nhất, những gì tồn tại; các ý kiến khác nhau về những nội dung của văn bản trước khi được ban hành; các văn bản được ban hành tiếp theo và văn bản để cụ thể hóa văn bản này; vị trí của văn bản này trong hệ thống các văn bản thuộc lĩnh vực văn bản điều chỉnh...

+ Với cán bộ tuyên truyền (bao gồm: báo cáo viên, tuyên truyền viên, phóng viên, biên tập viên các báo, đài): Có thể dùng phương pháp khái quát hoặc diễn giải tuỳ thuộc vào hình thức văn bản nhưng cần tập trung nhấn mạnh những nội dung để phục vụ cho công tác tuyên truyền của cán bộ tuyên truyền như: bản chất, ý nghĩa pháp lý của vấn đề; sự cần thiết, mục đích của việc ban hành văn bản; những số liệu, tài liệu cần viện dẫn, đối chiếu, so sánh; các vấn đề chủ yếu cần tập trung phổ biến, tuyên truyền.

+ Với những người phải chấp hành pháp luật: Sử dụng phương pháp diễn giải là phù hợp. Cần nêu bản chất, ý nghĩa của vấn đề, mục đích, sự cần thiết phải ban hành văn bản, ý nghĩa của các quy phạm liên quan đến từng đối tượng thi hành trong văn bản. Báo cáo viên cần tập trung phân tích quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ xã hội được văn bản điều chỉnh, cơ chế thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện, thời hiệu khiếu nại, khởi kiện...

* Trong thực tiễn tuyên truyền miệng pháp luật, vì nhiều lý do, có thể xảy ra những “trục trặc” ngoài ý muốn khi đang thực hiện buổi tuyên truyền miệng pháp luật. Những “trục trặc” thường gặp trong thực tế là:

- Nói lắp, nói nhịu: Đôi khi trong khi đang nói vì căng thẳng hay mệt mỏi báo cáo viên nói lắp, nói nhịu. Đây là hiện tượng vô thức xảy ra ngoài ý muốn của con người. Khi xảy ra hiện tượng này, thường sẽ gây nên tiếng cười, ồn ào trong người nghe. Để khắc phục hiện tượng này, báo cáo viên cần phải bình tĩnh, không được mất tinh thần; lấy lại sự tập trung vào bài giảng. Báo cáo viên có thể kể một câu chuyện vui hoặc có những câu nói hài hước để tạo nên không khí thoải mái, vui vẻ trong buổi tuyên truyền, sau đó khéo léo dẫn dắt vào bài giảng.

- Lạc đề: Hiện tượng này xảy ra do báo cáo viên phân tích, diễn giải vấn đề quá rộng dẫn đến những nội dung báo cáo viên nói không có liên quan hoặc ít liên quan đến bài giảng. Trong trường hợp này, báo cáo viên không được mất bình tĩnh; sử dụng phương pháp quy nạp, từ những vấn đề đã phân tích, diễn giải rộng ở trên, báo cáo viên khéo léo dẫn dắt người nghe đến những nội dung chính của bài giảng.  Để kiểm soát được bài giảng của mình đúng trọng tâm, không lạc đề đòi hỏi báo cáo viên phải chuẩn bị kỹ nội dung bài giảng, trong khi giảng bài cần tập trung, luôn quan tâm theo dõi đến thái độ (phản ứng) của người nghe để điều chỉnh bài giảng hợp lý.

- Thừa giờ hoặc thiếu giờ: Tình huống này thường xảy ra đối với những báo cáo viên còn thiếu kinh nghiệm trong nghề. Đây là trường hợp thời gian dự kiến ban đầu của buổi tuyên truyền miệng vẫn còn nhưng báo cáo viên đã truyền đạt hết các nội dung văn bản pháp luật hoặc đã hết giờ mà chưa truyền đạt hết nội dung. Nếu gặp phải trường hợp này, tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể mà báo cáo viên cần phải nhanh nhạy chuyển sang hình thức khác có liên quan đến bài giảng như tổ chức thảo luận về những nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo viên sẽ trực tiếp giải đáp những thắc mắc của người nghe hoặc báo cáo viên chuẩn bị sẵn những câu hỏi liên quan đến nội dung bài giảng để hỏi người nghe hoặc tổ chức giao lưu, học hỏi kinh nghiệm về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật giữa báo cáo viên và người nghe, nhất là khi người nghe là những cán bộ tuyên truyền pháp luật...

Ngoài ra, cần xử lý các tình huống khác trong hội trường như: Học viên ngủ gật, nghe điện thoại di động, mất điện, học viên nói chuyện riêng...

5.3. Phần kết luận:

Là phần người nói thường điểm lại và tóm tắt những vấn đề cơ bản đã tuyên truyền. Tùy từng đối tượng mà nêu những vấn đề cần lưu ý đối với họ. Trong phần này, người nói sau khi đã phân tích, diễn giải cần phải tóm tắt lại những nội dung chính của buổi tuyên truyền miệng và những vấn đề cần lưu ý. Tuy nhiên với mỗi một đối tượng khác nhau sẽ có cách thức tóm tắt khác nhau căn cứ vào nhu cầu, lĩnh vực công tác của đối tượng.

5.4. Trả lời câu hỏi của người nghe: Người nói cần dành thời gian cần thiết trả lời các câu hỏi mà người nghe quan tâm, chưa hiểu rõ. Đây là phần người nói có thể đánh giá được mức độ hiểu bài của người nghe; là dịp để người nói trao đổi những kinh nghiệm, hiểu biết của mình cho người nghe.

Tóm lại, hiệu quả của tuyên truyền miệng về pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Để đạt hiệu quả tuyên truyền cao, người tuyên truyền cần phải dày công tích luỹ, chuẩn bị đề cương, phải có nghệ thuật vượt qua hàng rào ngăn cách ban đầu về mặt tâm lý, gây thiện cảm, gây sự chú ý của người nghe từ khi bắt đầu buổi nói chuyện; phải biết tạo ra nhu cầu, kích thích, hấp dẫn, gây ấn tượng cho người nghe trong suốt buổi nói; biết kết luận đúng cách để khi kết thúc còn đọng lại những điều cần thiết cho người nghe tiếp tục suy nghĩ.

2.1.Phổ biến, giáo dục pháp luật qua báo chí   

1. Vai trò của báo chí trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:

Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội, báo chí ở Việt Nam gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài.

"Báo in" là tên gọi loại hình báo chí được thực hiện bằng phương tiện in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn).

"Báo nói" là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên sóng phát thanh (chương trình phát thanh).

"Báo hình" là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên sóng truyền hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện khác nhau).

"Báo điện tử" là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên mạng thông tin máy tính (Internet, Intranet).

Với chức năng là phương tiện thông tin đại chúng, báo chí Việt Nam đã thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, trong đó có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Với đặc tính cơ bản của báo chí là tính phổ cập, nhanh chóng, kịp thời và rộng khắp, trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, báo chí đóng vai trò quan trọng, là công cụ, phương tiện hữu hiệu đưa pháp luật đến với cán bộ, nhân dân, giúp cho đông đảo cán bộ, nhân dân dễ dàng tiếp thu, nắm bắt, tìm hiểu, nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật. Báo chí góp phần phản ánh thực tiễn thi hành pháp luật và hướng dẫn dư luận xã hội ủng hộ, biểu dương người tốt, việc tốt trong chấp hành pháp luật, lên án, phê phán những biểu hiện tiêu cực, những hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội, tạo niềm tin vào pháp luật, vào công lý trong mọi tầng lớp nhân dân. Trong công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật, báo chí còn đóng vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Bên cạnh việc tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân, báo chí còn là diễn đàn thể hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân. Báo chí phản ánh những đề xuất, kiến nghị của người dân với Đảng, Nhà nước về các chính sách, các quy định pháp luật chưa thật phù hợp, về những bất cập, những vướng mắc, bức xúc trong thực tiễn thi hành, chấp hành pháp luật.

Đặc biệt, ngày nay với sự phát triển đa dạng của các loại hình báo chí và việc phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã góp phần ngày càng nâng cao hiệu quả và chất lượng của thông tin trong đó có các thông tin về pháp luật.

2. Các đặc trưng cơ bản của phổ biến, giáo dục pháp luật qua báo chí:

2.1. Đối tượng rộng:

So với các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác thì loại hình phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí có lợi thế là có đông đảo bạn đọc, khán thính giả trong nước và ở nước ngoài.

2.2. Hình thức phong phú, hấp dẫn:

Báo chí có nhiều loại: báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. Trong mỗi loại hình đó lại có rất nhiều cách thể hiện như: tin, bài, tọa đàm, diễn đàn, truyện ngắn, tiểu phẩm, phim truyền hình, phim tài liệu,…

2.3. Tính nhanh chóng, kịp thời:

Do đặc thù của báo chí là thực hiện hoạt động thông tin, yêu cầu cơ bản của thông tin là phải nhanh nhạy, kịp thời, cập nhật, nếu không thông tin sẽ trở nên lỗi thời, không còn tính hấp dẫn. Hiện nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học, công nghệ, các loại hình báo chí đều có đặc tính là truyền tin nhanh, đặc biệt là báo điện tử. Chính vì vậy, việc tuyên truyền pháp luật trên báo chí luôn được thực hiện  nhanh chóng, kịp thời để đáp ứng nhu cầu được thông tin, tìm hiểu về pháp luật của người dân.

2.4. Tính rộng khắp:

 Với số lượng phát hành lớn (báo in), với diện phủ sóng rộng (đài phát thanh, đài truyền hình), sự kết nối mạng internet toàn cầu, việc thông tin của báo chí nói chung và việc tuyên truyền pháp luật trên báo chí nói riêng được thực hiện trên diện rộng, về đặc tính này không có loại hình nào có thể ưu việt hơn báo chí.

2.5. Tính phổ cập:

Do đối tượng phục vụ chung của báo chí là đông đảo công chúng, bên cạnh đó, mỗi cơ quan báo chí lại có một đối tượng phục vụ chủ yếu riêng (như thanh niên, phụ nữ, nông dân, nhà khoa học…). Vì vậy, việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí luôn đảm bảo tính phổ cập, phục vụ cho đông đảo đối tượng của mình.

3. Tổ chức và duy trì chuyên mục pháp luật trên báo chí

Có thể nói, trên mặt trận văn hóa – tư tưởng nói chung và công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói riêng, báo chí đóng vai trò là lực lượng xung kích. Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, báo chí càng phải thực hiện tốt hơn nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của mình. Để góp phần nâng cao chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí, việc xây dựng và duy trì các chuyên trang, chuyên mục, các chương trình phát thanh, truyền hình về pháp luật là cần thiết.

3.1. Nội dung và hình thức chuyên mục pháp luật:

a. Nội dung chuyên mục

Tuỳ theo đối tượng phục vụ, chuyên mục pháp luật trên báo chí có thể có các nội dung chủ yếu sau đây:

- Giới thiệu chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó, chú trọng giới thiệu các văn bản pháp luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân, cập nhật, phổ biến các văn bản pháp luật mới được xây dựng và các văn bản pháp luật được sửa đổi, bổ sung.

Đối với việc tuyên truyền các văn bản pháp luật mới ban hành, tuỳ từng vị trí, tầm quan trọng của văn bản pháp luật, báo chí cần vào cuộc từ khâu soạn thảo, phản ánh các ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân vào dự thảo luật, đăng các bài giới thiệu, tìm hiểu, phân tích, giải thích nội dung dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật.

Việc giới thiệu văn bản pháp luật có thể đăng toàn văn, trích đăng hoặc ra số phụ trương, hoặc có thể giới thiệu, thông tin sơ lược về văn bản pháp luật hoặc mở mục giới thiệu sách pháp luật. Việc phổ biến rộng khắp nội dung văn bản pháp luật và sách pháp luật như trên sẽ giúp nhân dân hiểu biết về pháp luật và khi cần có thể tự tìm hiểu.

- Phản ánh thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật thông qua các vụ việc cụ thể liên quan đến pháp luật hoặc thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Khi nêu các vụ việc cụ thể, đặc biệt là những vụ việc tiêu cực, vi phạm pháp luật, báo chí cần phải nêu diễn biến chính của vụ việc một cách khách quan, trung thực, lồng ghép việc phân tích, phổ biến, giáo dục pháp luật có liên quan, tỏ thái độ định hướng dư luận xã hội để tạo ra sức mạnh chung lên án, đấu tranh với những vi phạm pháp luật, tội phạm, bảo vệ công lý. Nội dung tuyên truyền này thường hấp dẫn. Tuy nhiên, khi thực hiện nội dung này, báo chí cần phải chú ý điểm dừng và vị trí, chức năng của mình, luôn khách quan và công bằng, tránh biểu hiện sự thiên lệch về một bên (đương sự hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền), cũng không làm thay công việc của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, kết luận vụ việc đúng sai, mà chỉ bày tỏ quan điểm của mình bằng cách đưa ra các bằng chứng, lý lẽ, lập luận mang tính tham khảo để các cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định. Để việc tuyên truyền đạt hiệu quả, các bài báo không nên đi sâu vào miêu tả, khai thác chi tiết hành vi, thủ đoạn phạm tội, đưa ra những tình tiết “giật gân”, “câu khách”… làm phản tác dụng tuyên truyền pháp luật.

Qua phản ánh thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật, báo chí cần phát hiện những bất cập, bất hợp lý trong các văn bản pháp luật, những quy định không phù hợp, lỗi thời, chồng chéo của hệ thống pháp luật để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Đồng thời, cũng qua thực tiễn cuộc sống, báo chí cần phát hiện những vấn đề còn bỏ ngỏ, thiếu sự điều chỉnh của pháp luật để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện. Bên cạnh đó, báo chí cũng cần đăng tải các ý kiến tiếp thu phê bình của các đơn vị có vụ việc đã được nêu trước công luận, một mặt giúp các cơ quan nhà nước làm tốt trách nhiệm của mình, mặt khác tạo cho người dân lòng tin vào pháp luật, vào công lý.

- Thực hiện giải đáp, tư vấn pháp luật trên báo chí, nội dung này có tác dụng đáng kể trong việc đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của nhân dân, không chỉ của những người có câu hỏi nhờ báo giải đáp mà còn của nhiều người có vấn đề tương tự.

- Nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới trong thực tiễn thi hành, chấp hành pháp luật, nhất là những cá nhân, tổ chức dũng cảm đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, vô trách nhiệm, những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm.

b. Hình thức chuyên mục:

Yêu cầu của việc phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí là phải đúng, chính xác, ngắn gọn, đồng thời cũng phải hấp dẫn, truyền tải một cách sinh động, dễ hiểu, hiệu quả thiết thực. Chính vì vậy, mỗi loại hình báo chí cần phải tìm những hình thức thể hiện phù hợp.

- Báo in: Các chuyên mục pháp luật được thực hiện thông qua các thể loại như tin, bài, phỏng vấn, hỏi – đáp pháp luật, tiểu phẩm, truyện ngắn, kết hợp với cách trình bày, cách đặt “tít”, hình ảnh minh họa…

- Báo hình, báo nói: Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện dưới các hình thức như tin tức thời sự, phóng sự, phỏng vấn, tọa đàm, giải đáp pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, lồng ghép vào các trò chơi truyền hình, tiểu phẩm, phim truyền hình, phim tài liệu…

- Báo điện tử: Phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua các hình thức như tin, bài, tổ chức diễn đàn, giao lưu trực tuyến. Đặc biệt, hình thức tổ chức diễn đàn, giao lưu trực tuyến là hình thức trao đổi thông tin tận dụng được đầy đủ thế mạnh của báo điện tử, nó giúp cho sự trao đổi thông tin giữa báo chí và công chúng diễn ra dễ dàng, thuận lợi, người đọc không chỉ chia sẻ ý kiến với tòa soạn mà cả với đông đảo bạn đọc.

Để việc trao đổi thông tin được dễ dàng, đối với chuyên mục pháp luật, các báo điện tử có thể thiết lập địa chỉ thư điện tử riêng cho chuyên mục.

3.2. Kinh nghiệm phối hợp giữa cơ quan tư pháp và báo chí trong việc xây dựng, duy trì và nâng cao hiệu quả của chuyên mục pháp luật:

Việc thực hiện các chương trình, chuyên mục pháp luật trên báo chí vừa đòi hỏi nghiệp vụ báo chí, vừa cần có kiến thức pháp luật và những điều kiện khác, chính vì vậy, sự phối hợp giữa cơ quan tư pháp và báo chí trong việc xây dựng và duy trì các chương trình, chuyên mục pháp luật trên là cần thiết.

Để xây dựng, duy trì và nâng cao hiệu quả của chuyên mục pháp luật, cơ quan tư pháp và báo chí cần phối hợp thực hiện các công việc sau:

a. Cơ quan tư pháp làm đầu mối phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với cơ quan văn hóa – thông tin và báo chí trong định hướng tuyên truyền pháp luật:

Mô hình tổ chức giao ban, họp báo định kỳ giữa cơ quan tư pháp, văn hóa – thông tin, các ban, ngành có liên quan với phóng viên báo chí là rất cần thiết để thông tin, định hướng nội dung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong năm, từng tháng, quý; một mặt, vừa giúp báo chí kịp thời phổ biến những chính sách, văn bản pháp luật mới; mặt khác, đó cũng là dịp để đánh giá, rút kinh nghiệm về công tác tuyên truyền pháp luật trên báo chí thời gian qua, định hướng cho công tác này trong thời gian tiếp theo.

b. Xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên mục phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí:

Kế hoạch phối hợp có thể gồm các nội dung sau:

-         Xác định nội dung và hình thức của chuyên trang, chuyên mục;

-         Thời lượng của chuyên trang, chuyên mục; thời gian phát sóng, phát hành báo;

-         Phân công trách nhiệm thực hiện:

+ Cơ quan tư pháp chịu trách nhiệm về nội dung pháp lý của chương trình, chuyên mục, cung cấp sách báo, tài liệu pháp luật; tạo điều kiện cho phóng viên đi cơ sở viết tin, bài, thực hiện chương trình, ghi âm, ghi hình, trong phòng thu, trường quay hoặc hiện trường; cử cán bộ cùng thực hiện chương trình, chuyên mục; hỗ trợ một phần kinh phí thực hiện; giúp cơ quan báo chí tổ chức mạng lưới cộng tác viên viết về pháp luật; làm đầu mối tổ chức các cuộc họp cộng tác viên, sơ kết, tổng kết việc phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí, tổ chức khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí.

+ Cơ quan báo chí chịu trách nhiệm sản xuất và thực hiện chương trình, chuyên mục theo kế hoạch; thực hiện theo đúng quy định của Luật báo chí về đính chính, cải chính trên báo chí, chịu trách nhiệm về nội dung thông tin.

c. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cộng tác viên, phóng viên, biên tập viên cho chuyên mục:

 Đây là một biện pháp rất quan trọng nhằm duy trì, nâng cao chất lượng chuyên trang, chuyên mục về pháp luật.

- Cần xây dựng một đội ngũ phóng viên, biên tập viên viết về pháp luật  vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, có tư cách đạo đức tốt, đồng thời phải có trình độ và kiến thức cần thiết về pháp luật. Viết về đề tài pháp luật mà không hiểu pháp luật sẽ dẫn đến viết sai, không chính xác, làm phản tác dụng tuyên truyền.

Kinh nghiệm của một số cơ quan báo chí trong việc tạo nguồn phóng viên, biên tập viên viết về pháp luật là:

·        Tuyển những người tốt nghiệp Đại học Luật về cơ quan báo chí làm phóng viên của chuyên mục, tạo điều kiện để số phóng viên này vừa làm, vừa được đào tạo thêm về nghiệp vụ báo chí;

·        Đào tạo nâng cao trình độ pháp luật cho đội ngũ phóng viên để bổ sung nguồn phóng viên, biên tập viên cho chuyên mục.

 - Cơ quan Tư pháp cần giúp báo, đài xây dựng đội ngũ cộng tác viên viết về pháp luật. Nguồn cộng tác viên viết về pháp luật bao gồm: các luật gia đã và đang công tác tại các cơ quan Công an, Tòa án, Kiểm sát, các trường và viện nghiên cứu về pháp luật; đồng thời cũng tìm nguồn cộng tác viên từ các bộ, ngành, địa phương ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

- Để nâng cao chất lượng đội ngũ cộng tác viên, phóng viên, biên tập viên viết về pháp luật, cơ quan tư pháp và báo, đài cần phối hợp thực hiện các hoạt động sau:

+ Tổ chức các hội nghị chuyên đề, các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật ngắn ngày, theo chuyên đề nhằm nâng cao nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cho đội ngũ cộng tác viên, phóng viên, biên tập viên viết về pháp luật;

+ Tổ chức các câu lạc bộ pháp luật cho phóng viên viết về pháp luật. Hình thức này quy tụ được những người viết về pháp luật tham gia sinh hoạt nghiệp vụ, trao đổi học tập kinh nghiệm;

+ Tổ chức các cuộc thi viết về pháp luật cho các chương trình, chuyên mục pháp luật. Đây là hình thức có tác dụng mở rộng mạng lưới cộng tác viên, nâng cao nghiệp vụ của phóng viên viết về pháp luật;

+ Cung cấp cho các cộng tác viên, phóng viên các tài liệu nghiệp vụ, tài liệu pháp luật.

d. Khen thưởng đối với những cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí. Việc khen thưởng này do cơ quan tư pháp thực hiện trên cơ sở đánh giá thành tích của báo, đài thông qua hoat động phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật. Việc khen thưởng cần thực hiện thường xuyên, kịp thời để động viên, khuyến khích những phóng viên, biên tập viên có những đóng góp tích cực vào việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí.

4. Một số kỹ năng khi thực hiện tuyên truyền pháp luật trên báo chí

4.1. Khái niệm về tin, bài:

Tin là một thể tài của tác phẩm báo chí phản ánh trung thực một sự kiện, vụ việc mới xảy ra ở một địa điểm, trong một thời điểm cụ thể, có ý nghĩa về mặt chính trị, kinh tế, xã hội được dư luận quan tâm. Lợi thế lớn nhất của tin là tính nhanh nhạy, kịp thời.

Tin gồm các loại chủ yếu sau đây:

-         Tin vắn là tin tóm lược sự kiện vừa xảy ra, chủ yếu đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh nhạy.

-         Tin ngắn thường thông tin một cách ngắn gọn nhưng tương đối đầy đủ về một sự kiện mới xảy ra gồm chủ thể, địa điểm, thời gian, kết quả.

-         Tin chuyên sâu cũng là tin đề cập về các sự kiện, vụ việc nhưng phản ánh một cách toàn diện, sâu sắc hơn, có sức khái quát để người đọc, người xem nắm chắc sự việc, bản chất của vấn đề.

-         Tin tổng hợp là tin chủ yếu phản ánh các vấn đề rộng, mang tính chuyên đề, lĩnh vực, được sắp xếp theo từng điểm.

-         Tin tường thuật chủ yếu dùng để phản ánh các hội nghị, đại hội, cuộc họp theo tuần tự thời gian và các sự việc xảy ra trong hội nghị đó.

-         Tin phỏng vấn cũng là tin về một vấn đề cụ thể được trình bày dưới dạng hỏi đáp.

Bài báo là một trong những thể loại báo chí có từ lâu đời và có vị trí rất quan trọng. Bài báo thường có dung lượng lớn hơn tin và phải đáp ứng yêu cầu cơ bản của tác phẩm báo chí là phản ánh hiện thực qua những sự kiện thời sự (ví dụ phóng sự, điều tra, bình luận, ghi chép của phóng viên…).

4.2. Yêu cầu chung đối với tin, bài tuyên truyền pháp luật:

Tin, bài tuyên truyền pháp luật cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

a. Tính kịp thời:

Đây là đặc tính, yêu cầu đầu tiên của thể tài tin và bài về pháp luật, nhất là đối với thể tài tin. Việc thông tin nhanh nhạy, kịp thời về những sự việc, hiện tượng xảy ra trong đời sống pháp lý sẽ góp phần hiệu quả phản ánh hiện thực, định hướng dư luận, cổ vũ hoặc phê phán các hiện tượng, sự việc đang phát sinh trong đời sống xã hội. Kịp thời không có nghĩa là đưa tin ngay lập tức về một sự kiện, một vấn đề nào đó trong đời sống chính trị pháp lý mà chính là ở độ chín muồi của vấn đề. Nếu đưa tin về một sự kiện đang ở giai đoạn phôi thai mà không thể dự đoán được xu hướng phát triển của nó thì đó là nóng vội. Ngược lại, nếu để một sự kiện, một hiện tượng đã xảy ra lâu rồi mới đưa tin, viết bài thì không còn tính hấp dẫn, mất tính định hướng và làm giảm hiệu quả thông tin giáo dục.

b. Tin, bài tuyên truyền về pháp luật phải đảm bảo yêu cầu đúng pháp luật:

 Đây là yêu cầu đặc thù của tin, bài tuyên truyền về pháp luật. Đúng pháp luật thể hiện ở nhiều điểm như:

- Sử dụng đúng thuật ngữ pháp lý;

- Các căn cứ pháp lý đưa ra phải phù hợp, chính xác;

- Việc phân tích lý lẽ, đánh giá, nhìn nhận vấn đề phải trên cơ sở pháp luật, phù hợp với quy định của pháp luật.

c. Tính chân thực, khách quan:

Là yêu cầu rất quan trọng trong việc viết tin, bài tuyên truyền về pháp luật. Sự kiện, hiện tượng, các tình tiết, số liệu được công bố qua tin, bài phải là sự kiện có thực, số liệu chính xác, không tô vẽ. Khi đánh giá sự việc, hiện tượng đó phải đảm bảo cách nhìn khách quan, không phiến diện, không hình thức, phải đánh giá sự việc, hiện tượng một cách toàn diện, đúng bản chất, trong mối quan hệ qua lại với các sự việc, hiện tượng khác. Để tin, bài bảo đảm tính chân thực, khách quan cần tránh hai khuynh hướng:

- Thứ nhất là thiếu chọn lọc sự kiện, số liệu, chi tiết, đi sâu phản ánh nhiều chi tiết quá vụn vặt, tỉ mỉ, dẫn đến việc phản ánh thực tế theo hướng tự nhiên chủ nghĩa, không có tác dụng giáo dục thậm chí có thể phản tác dụng giáo dục;

- Thứ hai, phản ánh sự việc, hiện tượng theo ý chí chủ quan của người viết, đưa tin thiếu chính xác hoặc chưa trúng với bản chất của sự việc.

d. Phù hợp với đối tượng:

Khi đưa tin, viết bài, thực hiện chương trình, chuyên mục người làm báo phải trả lời câu hỏi “viết cho ai?” như Bác Hồ đã dạy. Đối tượng phục vụ chủ yếu nhất, rộng lớn nhất của báo chí cách mạng Việt Nam nói chung là đông đảo nhân dân lao động. Bên cạnh đó, mỗi tờ báo, bản tin, chương trình chuyên đề, chuyên ngành còn có đối tượng phục vụ cụ thể mình. Với mỗi đối tượng phục vụ cụ thể của mình, báo chí cần có cách thể hiện phù hợp. Người viết cần phải xác định rõ đối tượng phản ánh và đối tượng phục vụ của mình, từ đó bám sát đối tượng để viết cho sâu sát, thiết thực, điều này giúp cho tác phẩm báo chí về đề tài pháp luật có chất lượng hơn, thông tin trúng hơn, sâu hơn và vì vậy sẽ có tác dụng hơn.

đ. Tính định hướng đúng đắn của thông tin:

Khi đưa tin, viết bài, thực hiện chương trình tuyên tuyền về pháp luật người viết cần phải trả lời câu hỏi “viết để làm gì?” để xác định mục đích của việc thông tin là để phổ biến, giải thích pháp luật, để lên án, phê phán, đấu tranh với những hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật, tội phạm, hay để cổ vũ, biểu dương người tốt, việc tốt trong thực tiễn thi hành pháp luật… Qua đó, người viết có thể định hướng đúng đắn dư luận.

e. Về mặt hình thức thể hiện, tin, bài tuyên truyền về pháp luật phải đảm bảo yêu cầu ngắn gọn, súc tích, chính xác, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, dễ hiểu, cách thể hiện phong phú, hấp dẫn. Việc giải thích, phản ánh các quy định pháp luật, các sự việc, hiện tượng liên quan đến pháp luật là việc làm không dễ dàng, vì vậy để các thông tin pháp luật được truyền tải đến người đọc, người xem, người nghe một cách hiệu quả, các tác phẩm báo chí cần tìm được hình thức thể hiện phong phú, hấp dẫn, cách diễn đạt dễ hiểu, có sức truyền tải sâu sắc đến đối tượng phục vụ.

Các yêu cầu đặt ra đổi với tin, bài viết về pháp luật cần được đặt trong mối quan hệ tổng thể, không thể coi nhẹ hay coi trọng bất cứ yêu cầu nào. 

4.3. Một số kỹ năng cơ bản về viết tin, bài tuyên truyền pháp luật

a. Chọn vấn đề, sự kiện để viết bài, đưa tin:

Đó phải là những vấn đề, sự kiện xảy ra trong đời sống chính trị pháp lý có tính chất tiêu biểu, có ý nghĩa quan trọng trong từng phạm vi, từng thời điểm, đồng thời vấn đề, sự kiện đó phải luôn mới mẻ, nóng hổi tính thời sự, ví dụ: giới thiệu Luật phòng, chống tham nhũng trong điều kiện đang đấu tranh quyết liệt với những hành vi tội phạm kinh tế trong thời gian qua. Cần tránh xu hướng viết tin, bài dựa trên báo cáo tổng kết công tác tháng, quý, năm, không có sự chọn lọc sự kiện, vấn đề nổi bật.

b. Lựa chọn cách thể hiện:

Khi một vấn đề, sự kiện được thể hiện dưới một hình thức tin, bài phù hợp sẽ làm tăng tính hiệu quả của thông tin. Đối với những vấn đề cần thông tin nhanh nhạy, kịp thời, ngắn gọn thì lựa chọn thể loại tin. Đối với những vấn đề cần trình bày một cách chi tiết, phân tích, nhìn nhận, đánh giá vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau thì lựa chọn thể loại bài. Tiếp đó, cần phải căn cứ vào mục đích thông tin để lựa chọn thể loại tin, bài cho phù hợp.

b. Xác định đối tượng thông tin:

Thông thường tin bài về đời sống pháp luật có đối tượng thông tin rộng rãi. Tuy nhiên để tin, bài phát huy hiệu quả, cần xác định cụ thể đối tượng chủ yếu cần được thông tin. Từ đó căn cứ vào trình độ nhận thức, thị hiếu, sở thích nói chung của đối tượng đó mà chọn lọc thông tin, lựa chọn cách thể hiện, ngôn ngữ phù hợp.

c. Thu thập thông tin:

Tin, bài viết về pháp luật không thể thiếu số liệu, sự kiện. Vì vậy phải thu thập đầy đủ số liệu, sự kiện chủ yếu, phản ánh được, bao quát được vấn đề định nêu. Có những sự kiện, số liệu chính và sự kiện, số liệu phụ. Tùy theo tính chất của vấn đề cần thông tin, phải thu thập được những sự kiện, số liệu chính mà thiếu nó thì tin, bài không thể đứng vững được. Tuy vậy, bên cạnh đó, cũng cần thu thập các số liệu, sự kiện phụ giúp làm sáng tỏ, làm “nặng” thêm sự kiện, số liệu chính.

d. Xử lý thông tin:

Việc xử lý thông tin bao gồm:

- Kiểm tra và nắm vững thông tin: Bên cạnh việc đưa tin nhanh, một trong những nhiệm vụ quan trọng của báo chí là phải đưa tin chính xác. Vì vậy, sau khi thu thập thông tin, cần kiểm tra tính chính xác, khách quan của thông tin.  Nếu còn nghi ngờ, phân vân về thông tin nào đó mà chưa có điều kiện kiểm tra, xác minh thì kiên quyết không sử dụng. Việc kiểm tra thông tin được thực hiện bằng nhiều cách: thông qua tư liệu, thông qua nhân chứng…

- Lựa chọn thông tin: Lựa chọn tức là sàng lọc và loại bỏ những thông tin không cần thiết, những thông tin còn nghi ngờ về độ chính xác, chân thực, khách quan.

- Sắp xếp, so sánh, đối chiếu các thông tin khác, “dựng một bức tranh có ý nghĩa về diễn biến của sự kiện, mối quan hệ giữa các thông tin, mối liên kết” để có được cái nhìn bao quát về vấn đề, sự kiện.

- Nhận dạng, phân biệt, tập trung sự chú ý vào các sự việc và nhân vật quan trọng trong tin, bài; đồng thời giải quyết từng điểm để làm cho tin, bài hấp dẫn, dễ hiểu.

đ. Dựng một dàn bài:

Xây dựng bố cục cho tin, bài là công đoạn rất quan trọng, có thể nói rằng tính sáng tạo khi viết bài, đưa tin là ở bố cục, sắp xếp sự kiện, số liệu để làm nổi bật chủ đề, gây ấn tượng cảm xúc đối với người đọc. Khi đã xác định được góc độ của bài báo, lựa chọn được thông tin, cần phải làm dàn ý. Việc làm dàn ý bài viết theo một kết cấu nhất định sẽ giúp cho bài viết mạch lạc, người đọc dễ hiểu, dễ cảm nhận được vấn đề mà bài báo phản ánh.

Có nhiều cách kết cấu một bài viết, cụ thể là:

-         Kết cấu theo thời gian: sắp xếp bài viết theo trật tự thời gian;

-         Kết cấu theo phương pháp diễn dịch: bằng cách đề cập đến thông tin chính, sau đó chứng minh bằng các lý lẽ dựa trên các sự việc;

-         Kết cấu theo phương pháp quy nạp: trình bày nội dung bài viết từ các sự việc, tình trạng, sau đó tổng hợp, khái quát;

-         Kết cấu kim tự tháp ngược: tức là kết cấu theo thứ tự quan trọng giảm dần, thông tin chính đề cập trước, sau đó là các thông tin bổ sung. 

e. Viết tin, bài:

Tin, bài tuyên truyền pháp luật phải thể hiện ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, luôn thu hút độc giả từ đầu đến cuối, tránh viết “dây cà ra dây muống”. Ngôn ngữ trong tin, bài tuyên truyền pháp luật chủ yếu mang tính truyền tải thông tin, trong sáng, dễ hiểu, giản dị, chuẩn xác trong sử dụng thuật ngữ pháp lý. Tuy nhiên, thể tài tin, bài cũng rất cần sự sáng tạo trong ngôn ngữ thể hiện, cần sử dụng các hình thức đảo câu, đảo ý để tăng sự hấp dẫn của tin, bài; sử dụng trích dẫn, ví dụ cho phù hợp, góp phần mang lại cho bài viết sự chân thực và sống động…

Mỗi đoạn trong tin, bài cần tập trung thể hiện một ý, chuyển đoạn một cách chặt chẽ, logic.

Lưu ý khi viết tin, không có những lời bình luận và không được hư cấu.

2.2.Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua mạng lưới truyền thanh cơ sở   

1. Một số vấn đề chung về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở:

So với hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật qua báo chí, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở có đối tượng và phạm vi tác động hẹp hơn, được xác định cụ thể trong phạm vi một xã, phường, thị trấn hay một tổ dân phố, một thôn.

So với các hình thức phổ biến, giáo dục khác, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở có những lợi thế như:

-         Có khả năng truyền tin nhanh, kịp thời;

-         Gần gũi, thân thiết với người dân ở cơ sở: bởi những nội dung pháp luật được phát thanh trên mạng lưới truyền thanh cơ sở là những quy định pháp luật liên quan thiết thực đến đời sống hàng ngày của người dân cơ sở, những sự việc, những con người được phản ánh trong thực tiễn thi hành pháp luật là những sự việc, những con người có thật tại địa phương, những băn khoăn, thắc mắc của người dân cơ sở về chính sách, pháp luật được giải đáp kịp thời…

-         Hoàn toàn chủ động về thời gian: Có thể lựa chọn thời gian phát thanh một cách phù hợp với thực tế tập quán sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân ở địa phương để buổi phát thanh có tác dụng cao;

-         Chủ động trong việc lựa chọn nội dung: Có thể chủ động lựa chọn nội dung cho các buổi phát thanh phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương và mong muốn tìm hiểu pháp luật của người dân;

-         Có khả năng tác động tới nhiều đối tượng trong cùng một thời gian, phạm vi tác động rộng: Tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh có số lượng người nghe đông đảo, việc chọn thời gian phát thanh phù hợp cũng làm tăng đáng kể số lượng người nghe, phạm vi có thể là một thôn, một tổ dân phố hoặc một xã, một phường;

-         Có thể thực hiện phát thanh được nhiều lần;

-         Tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền của vì không phải tập trung dân tại một điểm để phổ biến pháp luật.

2. Kinh nghiệm phối hợp giữa cán bộ tư pháp  và cán bộ văn hóa – thông tin xã, phường, thị trấn trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật qua hệ thống truyền thanh cơ sở:

- Xây dựng kế hoạch phối hợp (quy chế phối hợp) giữa cán bộ tư pháp và cán bộ văn hóa – thông tin xã, phường, thị trấn trong phổ biến, giáo dục pháp luật trên hệ thống loa truyền thanh cơ sở, trong đó xác định rõ trách nhiệm của các bên trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hệ thống truyền thanh ở cơ sở.

Trong đó, cán bộ tư pháp có trách nhiệm:

-   Làm đầu mối phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương trong việc tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật qua hệ thống truyền thanh cơ sở;

-  Chịu trách nhiệm về nội dung tuyên truyền pháp luật của chương trình phát thanh;

-   Giúp cán bộ văn hóa – thông tin xây dựng đội ngũ cộng tác viên ở các ngành, các tổ chức đoàn thể tham gia viết bài cho chương trình phát thanh về pháp luật.

Cán bộ văn hóa – thông tin có trách nhiệm

-   Tổ chức mạng lưới truyền thanh trong phạm vi địa phương;

-    Xây dựng đội ngũ cộng tác viên;

-     Xây dựng kế hoạch phát thanh;

-   Tổ chức thực hiện chương trình phát thanh;

-    Bảo đảm kinh phí thực hiện chương trình phát thanh (kinh phí viết tin, bài, biên tập, phát thanh…).

- Tổ chức giao ban định kỳ, các cuộc họp cộng tác viên để trao đổi, rút kinh nghiệm trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở;

- Tổ chức sơ kết, tổng kết, khen thưởng, biểu dương các cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở.

3. Các công việc cần tiến hành để thực hiện chương trình phát thanh pháp luật trên mạng lưới truyền thanh cơ sở:

a. Xây dựng kế hoạch phát thanh:

Xây dựng kế hoạch phát thanh là việc làm không thể thiếu được để đảm bảo cho việc phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở được thực hiện một cách thường xuyên, ổn định.

Cán bộ tư pháp và cán bộ văn hóa – thông tin xã phối hợp với nhau trong việc xây dựng kế hoạch, chương trình phát thanh tuyên truyền pháp luật ở cơ sở định kỳ (năm, quý, tháng, tuần) hoặc đột xuất phục vụ sự kiện chính trị pháp lý của trung ương và địa phương trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định.

Kế hoạch phát thanh có những nội dung chủ yếu sau:

-         Xác định nội dung phát thanh:

Nội dung phát thanh tuyên truyền pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở thường bao gồm những nội dung như:

  Giới thiệu đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương, trong đó chú trọng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân ở địa phương như Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình, Luật dân sự, Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở…, những văn bản mới được ban hành, những quy định của chính quyền địa phương liên quan thiết thực tới người dân;

  Phản ánh thực tiễn thi hành, chấp hành pháp luật ở địa phương, nêu gương người tốt, việc tốt trong thực hiện, chấp hành pháp luật, đồng thời phê phán những cá nhân, hộ gia đình có hành vi vi phạm quy ước, nếp sống văn hóa, vi phạm pháp luật trên địa bàn cơ sở;

  Giải đáp pháp luật: giải đáp những thắc mắc, băn khoăn, những kiến nghị của người dân địa phương liên quan đến những quy định pháp luật, đến tình hình thực thi và chấp hành pháp luật ở cơ sở…

-   Xác định hình thức thể hiện: Để truyền tải nội dung của chương trình phát thanh cần xác định hình thức thể hiện phù hợp, sinh động, có thể lựa chọn một trong các hình thức như: tin, bài, hỏi – đáp pháp luật, tiểu phẩm, thơ ca, hò vè, hát, câu chuyện truyền thanh…

-   Xác định thời lượng phát thanh: Thời lượng phát thanh tuyên truyền về pháp luật cần phải được xác định phù hợp với đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí ở từng địa bàn bảo đảm dung lượng vừa phải với nhu cầu tiếp nhận của nhân dân địa phương, đồng thời bảo đảm hài hòa với các chương trình phát thanh về văn hóa, xã hội, y tế, dân số, sức khỏe – sinh sản… Qua thực tiễn cho thấy loại hình này có hiệu quả cao đối với địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa – nơi mà điều kiện thông tin còn nhiều hạn chế. Vì vậy, đối với những địa bàn này, cần tăng thời lượng phát thanh trên mạng lưới truyền thanh cơ sở trong đó có phát thanh tuyên truyền pháp luật.

- Thời gian phát thanh: Thời gian phát thanh được bố trí phù hợp với tập quán sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân địa phương, nhằm thu hút đông đảo người nghe, phát huy cao nhất hiệu quả tác động của chương trình. Ví dụ: đặc điểm của đồng bào các tỉnh miền núi, Tây Nguyên là làm nương rẫy thường đi cả ngày, nên thời gian phát thanh cần phải bố trí vào buổi sáng sớm (khoảng từ 5h30 đến 6h30) hoặc buổi chiều tối (từ 17h30 đến 18h30).

- Cách thức phát thanh: Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của địa phương mà xác định cách thức phát thanh phù hợp, hoặc phát thanh qua hệ thống loa cố định hoặc tổ chức phát thanh lưu động.

Ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa do gặp khó khăn về địa hình, về kinh phí… chưa xây dựng được mạng lưới truyền thanh cố định thì nên trang bị những phương tiện cơ động, ít tốn kém để tổ chức phát thanh lưu động.

- Phân công tổ chức thực hiện kế hoạch phát thanh:

-   Cán bộ văn hóa – thông tin chịu trách nhiệm thực hiện chương trình, phụ trách về kỹ thuật phát thanh.

-  - Cán bộ tư pháp chịu trách nhiệm về nội dung pháp lý của chương trình phát thanh, cung cấp tài liệu, văn bản để chuẩn bị nội dung chương trình.

-  Phát thanh viên: bảo đảm các yêu cầu như: không nói ngọng, không nói lắp, giọng đọc rõ ràng, truyền cảm. Đối với các chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số thì phát thanh viên phải thông thạo tiếng dân tộc, nên chọn những người dân tộc thiểu số làm phát thanh viên cho chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc.

- Người dịch tin sang tiếng dân tộc: Đối với những nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số, khi xây dựng các chương trình phát thanh tuyên truyền pháp luật bằng tiếng dân tộc, cần bố trí người (hoặc thành lập một nhóm, một tổ) dịch tin sang tiếng dân tộc. Cần sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc để thực hiện công việc này.

b. Chuẩn bị chương trình phát thanh:

Bao gồm các công việc sau:

-         Biên soạn tin, bài… cho chương trình;

-         Biên tập nội dung chương trình;

-         Chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật phát thanh;

-         Duyệt chương trình trước khi phát thanh chính thức.

Lưu ý: Trong quá trình chuẩn bị nội dung cho chương trình phát thanh tuyên truyền pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở, có thể khai thác tài liệu pháp luật từ các nguồn sau:

-    Tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn;

-  Điểm bưu điện văn hóa xã;

-   Tủ sách, ngăn sách pháp luật của các cơ quan, tổ chức, trường học đóng trên địa bàn xã, phường, thị trấn;

- Những tài liệu pháp luật (như đề cương tuyên truyền, sách hỏi – đáp pháp luật, băng cát sét…) do các cơ quan tư pháp cấp trên cung cấp;

-  Từ những nguồn khác: tài liệu của cá nhân, tài liệu từ cán bộ chuyên môn khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã như: Công an, quân sự, văn phòng – thống kê, địa chính – xây dựng, tài chính – kế toán.

c. Thực hiện chương trình phát thanh:

Chương trình phát thanh tuyên truyền pháp luật khi được thực hiện cần đảm bảo các yêu cầu sau:

-         Nội dung pháp luật thiết thực, đáp ứng nhu cầu của người dân ở cơ sở, được biên soạn ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, dễ hiểu;

-         Cách thể hiện phong phú, hấp dẫn, truyền cảm với nhiều thể loại khác nhau (tin, bài, câu chuyện, tiểu phẩm…); giọng đọc của phát thanh viên rõ ràng, truyền cảm;

-         Chất lượng âm thanh tốt, âm lượng vừa đủ;

-         Bố trí thời gian, thời lượng phát sóng chương trình phù hợp.

2.3.Phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng internet   

1. Giới thiệu chung

10 năm qua, kể từ ngày chính thức được triển khai tại Việt Nam, Internet đã phát triển với một tốc độ rất nhanh chóng. Từ con số 0, chúng ta đã vượt qua cả Thái Lan, Philippin… thậm chí cả Trung Quốc để đứng thứ 3 toàn khu vực về mật độ dân cư sử dụng Internet. Internet đã có mặt ở mọi lĩnh vực của đời sống… Thống kê của Bộ Bưu chính viễn thông cho thấy, hiện nay, Internet đã đi vào 100% các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, Cao đẳng, các Bệnh viện trung ương, các Tập đoàn và các Tổng công ty nhà nước, 98% các trường Trung học phổ thông, Trung học chuyên nghiệp, 92% các doanh nghiệp vừa và nhỏ, 50% các trường Trung học cơ sở, Bệnh viện cấp tỉnh, 26/26 Bộ Ngành, 56/64 tỉnh thành đã có Website riêng; ở những vùng sâu, vùng xa, hải đảo, Internet cũng đã có mặt để phục vụ nhân dân. Tuyên truyền pháp luật trên mạng internet là một hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay. Ưu điểm của hình thức này là có thể hướng tới phổ biến pháp luật cho nhiều đối tượng, thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau như học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức, doanh nhân, công nhân… Đây là một lợi thế lớn của Internet so với các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật khác.

2. Một số cách thức tuyên truyền pháp luật phổ biến trên mạng Internet

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên mạng Internet là một hình thức tuyên truyền hiện đại nhằm truyền tải những thông tin, yêu cầu, nội dung các quy định pháp luật đến với ngư­ời dân, giúp cho ngư­ời dân hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời, tiết kiệm nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu. Có nhiều cách thức khác nhau để thực hiện tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet, dưới đây là một số mô hình, cách thức tuyên truyền phổ biến. 

2.1. Cung cấp văn bản quy phạm pháp luật

Hiện nay, văn bản pháp luật vẫn là nguồn luật chủ yếu của hệ thống pháp luật nước ta. Vì vậy, nhu cầu tìm hiểu văn bản pháp luật luôn là một nhu cầu lớn của mọi tổ chức, cá nhân.

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nước ta bao gồm: Văn bản do Quốc hội ban hành (Hiến pháp, luật, nghị quyết); văn bản do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành (pháp lệnh, nghị quyết); văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ở trung ương ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội); văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp (nghị quyết của Hội đồng nhân dân; quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân).

Điều quan trọng nhất khi đưa các văn bản pháp luật lên trên mạng internet là văn bản đó phải đảm bảo tính chính xác. Để có được điều này, người thực hiện công việc cần dựa vào các nguồn cung cấp văn bản chính thống như Công báo Chính phủ, Công báo địa phương, Lệnh công bố của Chủ tịch nước, các bản chính, bản sao văn bản có giá trị như bản chính… Bên cạnh đó, có thể tham khảo các nguồn cung cấp văn bản pháp luật trên các trang web có độ tin cậy cao như Trang web của Trung tâm thông tin Văn phòng Quốc hội: http://www.na.gov.vn hoặc Website Chính phủ: http://www.chinhphu.vn hoặc Cổng thông tin của Bộ Tư pháp: http://www.moj.gov.vn/, hay Cơ sở dữ liệu Quốc gia về pháp luật tại địa chỉ http://vbqppl.moj.gov.vn/ hoặc tham khảo các đĩa CD-ROM cơ sở dữ liệu pháp luật Việt Nam. 

Việc cung cấp văn bản pháp luật cần đảm bảo tính cập nhật, kịp thời cung cấp những thông tin về các quy định mới, những chính sách mới của Nhà nước đến người dân. Điều này đòi hỏi người thực hiện phải nhanh chóng cập nhật các thông tin mới về các kỳ họp của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân…

Ngoài ra, tính có hệ thống là một yêu cầu quan trọng trong việc cung cấp văn bản pháp luật phục vụ mục đích tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet. Bên cạnh việc sắp xếp theo ngày ban hành, các văn bản nên được sắp xếp theo lĩnh vực để người đọc tiện theo dõi, tra cứu khi cần.

Bên cạnh việc cung cấp văn bản pháp luật, nếu có kèm theo lời tóm tắt, giới thiệu nội dung chính của văn bản thì sẽ rất hữu ích, tiện lợi cho người đọc. Thông qua nội dung tóm tắt, độc giả có thể biết được những nội dung cơ bản của văn bản pháp luật. Không nhất thiết phải tóm tắt tất cả các văn bản pháp luật mà có thể lựa chọn những văn bản quan trọng, văn bản mới, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân. Khi tóm tắt nội dung của văn bản pháp luật cần nêu được tinh thần chung của văn bản, nêu nội dung của những quy định mới, những quy định cơ bản của văn bản. Yêu cầu của lời tóm tắt là phải nêu được tên văn bản, cơ quan ban hành, ngày tháng ban hành, ngày có hiệu lực của văn bản, tên các văn bản pháp luật hết hiệu lực được văn bản đó thay thế. Lời tóm tắt cần ngắn gọn, dễ hiểu đồng thời bảo đảm được tính chuẩn xác, tránh hiểu sai, hiểu nhầm các quy định của pháp luật (vì thế khi cần thiết có thể trích nguyên văn những quy định của pháp luật).

2.2. Hỏi đáp pháp luật

Hỏi đáp pháp luật là một trong những hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả. Các câu hỏi về pháp luật có nhiều dạng, có thể là câu hỏi trực tiếp (ví dụ như “tội phạm là gì?”, “thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhân được pháp luật quy định như thế nào?”) hoặc câu hỏi gián tiếp thông qua một tình huống, một sự kiện xảy ra trong thực tế.

Câu hỏi trực tiếp thường dùng để giải thích các khái niệm hoặc thuật ngữ pháp lý, các vấn đề có tính lý thuyết. Vì thế, câu trả lời đối với câu hỏi trực tiếp thường gồm hai phần: giải thích khái niệm sau đó đưa ra ví dụ minh họa.

Đối với câu hỏi gián tiếp, câu trả lời cần phân tích tình huống, sự kiện, chỉ ra các sự kiện pháp lý, sau đó chỉ dẫn các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề được hỏi.

Tuy nhiên, dù dưới dạng nào thì câu hỏi và câu trả lời cũng cần ngắn gọn, rõ ràng, tránh dài dòng, gây rối và khó hiểu cho người đọc.

Hiện nay, nguồn hình thành các câu hỏi đáp pháp luật có hai dạng: một là, độc giả truy cập vào trang web rồi gửi câu hỏi cho Ban biên tập (gọi là hỏi đáp theo yêu cầu độc giả); hai là, Ban biên tập nghiên cứu, phát hiện thấy những vấn đề nhiều người quan tâm rồi xây dựng nội dung các vấn đề đó dưới dạng hỏi đáp. Tuy nhiên, cho dù các câu hỏi đáp được hình thành như thế nào thì người biên tập cũng cần lưu ý là phải lựa chọn câu hỏi, trả lời phù hợp và cần sắp xếp câu hỏi đáp pháp luật một cách khoa học, dễ tìm, dễ tra cứu khi cần thiết. Việc sắp xếp này có thể theo nhiều tiêu chí như theo lĩnh vực pháp luật (ví dụ: pháp luật lao động, pháp luật đất đai…) hoặc theo đối tượng hỏi đáp (ví dụ: hỏi đáp pháp luật dành cho thanh niên, phụ nữ, doanh nghiệp…).

2.3. Xây dựng các chuyên mục chuyên sâu về pháp luật

Các chuyên mục tuyên truyền chuyên sâu về pháp luật cung cấp những kiến thức sâu về từng vấn đề pháp luật cụ thể. Các chuyên mục thuộc loại này có thể được xây dựng theo tiêu chí như đối tượng cần tuyên truyền, nội dung pháp luật… (Ví dụ như chuyên mục thủ tục tố tụng dân sự, hình sự, pháp luật hội nhập WTO, pháp luật đất đai…). Song song với việc đảm bảo về nội dung kiến thức, các chuyên mục này cần chú ý đến những vấn đề trình bày, biên soạn nội dung cần tuyên truyền dưới dạng sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh sinh động để người đọc dễ theo dõi.

Bên cạnh việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua những chuyên mục chuyên sâu có nội dung mang tính lý thuyết nên xây dựng những chuyên mục đi sâu phân tích các tình huống cụ thể dưới góc độ pháp luật. Thực tế cho thấy cách làm này mang lại hiệu quả cao, người đọc dễ hiểu và dễ nhớ. Những câu chuyện pháp luật, những tình huống mâu thuẫn có thật trong cuộc sống được phân tích dưới góc độ pháp luật có thể giúp chuyển tải kiến thức pháp luật một cách sinh động, dễ hiểu, dễ nhớ tới người đọc.

2.4. Đưa các tài liệu tuyên truyền pháp luật lên mạng Internet

Đưa các tài liệu tuyên truyền pháp luật lên mạng Internet được hiểu là chuyển nội dung của các ấn phẩm tuyên truyền đã xuất bản (sách, đặc san, tờ gấp, tờ rơi, băng casset, đĩa hình, đĩa tiếng…) thành dữ liệu điện tử và đăng tải dữ liệu đó trên mạng Internet. Như vậy, các tài liệu tuyên truyền pháp luật đăng trên mạng Internet có nội dung giống như nội dung của các ấn phẩm đã xuất bản.

Cách làm này không những giúp tiết kiệm thời gian mà còn tiết kiệm cả chi phí, bởi vì không phải lúc nào cũng có điều kiện để xây dựng các chuyên mục tuyên truyền pháp luật hay biên soạn mới nội dung tuyên truyền cần thiết. Hơn nữa, người làm tuyên truyền có thể chủ động lựa chọn loại tài liệu phù hợp trong số nhiều ấn phẩm có chất lượng đã được xuất bản.

Đầu tiên, cần căn cứ vào mục đích, đối tượng và nguồn tài liệu tuyên truyền pháp luật hiện có để lựa chọn tài liệu (sách, đặc san, tờ gấp, tờ rơi, đĩa CD, VCD… ) đưa lên mạng Internet.

Tiếp theo là, chuyển tài nội dung tài liệu từ dạng bản in sang dữ liệu điện tử (ví dụ, đối với ấn phẩm dạng bản in giấy thì dữ liệu điện tử có thể là bản đánh máy). Cần kiểm tra (nghe, đọc soát) để đảm bảo nội dung của dữ liệu điện tử giống nội dung của ấn phẩm đã xuất bản.

Sau khi đã lựa chọn được tài liệu, cần nghiên cứu cách thức đưa lên mạng như đưa dưới dạng file Word, file .RAR hoặc file .PDF… tùy thuộc vào dung lượng của tài liệu, tính năng kỹ thuật của trang Web… Đối với những tài liệu có dung lượng không lớn, có thể đưa dưới dạng đơn giản là file Word. Các file đính kèm dạng .RAR hoặc .PDF có thể sử dụng trong trường hợp tài liệu có dung lượng lớn, tuy nhiên cần có chương trình tương thích để xem, đọc.

Hiện nay, có thể tham khảo cách làm này qua địa chỉ của một số Website như Website của Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (http://www.nciec.gov.vn); Trang thông tin Phổ biến, giáo dục pháp luật của Bộ Tư pháp (http://pbgdpl.moj.gov.vn/pbgdpl); Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (http://www.nclp.org.vn)….

2.5. Tổ chức giao lưu trực tuyến

Giao lưu trực tuyến là hình thức đối thoại qua mạng Internet, là dịp để những người tham gia bày tỏ, trao đổi những quan điểm của mình về những vấn đề cụ thể. Nội dung giao lưu trực tuyến về pháp luật thường là hỏi và trả lời các vấn đề liên quan đến pháp luật, qua đó góp phần nâng cao nhận thức về các vấn đề xã hội nói chung và nhận thức về pháp luật nói riêng.

Hiện nay hình thức giao lưu trực tuyến đang ngày càng trở nên phổ biến. Có rất nhiều báo điện tử tổ chức các diễn đàn để độc giả có cơ hội trao đổi với những nhân vật nổi tiếng, những chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau như báo Tuổi trẻ điện tử, báo Thanh niên điện tử, báo Vietnamnet… (Trên báo Vietnamnet, Tổ thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư đã có buổi giao lưu trực tuyến về việc thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư…) Bên cạnh đó, một số cơ quan quản lý nhà nước ở cấp trung ương như Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường… và một số địa phương như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội… đã tổ chức thành công hình thức đối thoại hiệu quả, tiện lợi này. (Đối thoại trực tuyến giữa Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng với người dân qua Website Chính phủ, Báo Điện tử Đảng Cộng sản và Báo Điện tử Vietnamnet, diễn ra từ 9h00 đến 12h00, ngày 09/02/2007 với chủ đề: "Vì một Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; hội nhập thành công, phát triển bền vững").

Để tổ chức tốt việc tuyên truyền pháp luật bằng hình thức giao lưu trực tuyến, chủ đề của buổi giao lưu trực tuyến về pháp luật cần cụ thể, rõ ràng. Người tổ chức và người giải đáp các vướng mắc cần có sự chuẩn bị chu đáo về nội dung vấn đề đặt ra, chú ý đến những vấn đề thời sự đang được nhiều người quan tâm. Bố trí hệ thống máy móc đảm bảo chất lượng và phân công đội ngũ nhân sự giúp việc, phục vụ tốt cho buổi giao lưu.

3. Các công việc cần tiến hành để thực hiện tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet

- Xây dựng kế hoạch tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet: Cần xác định mục đích của việc tuyên truyền, những nội dung pháp luật sẽ tuyên truyền và thời gian tuyên truyền: việc tuyên truyền sẽ diễn ra lâu dài, định kỳ hay theo thời điểm (ví dụ như trước kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội tập trung tuyên truyền Luật bầu cử đại biểu quốc hội)… Mục đích tuyên truyền sẽ quyết định mức độ đầu tư, tính năng kỹ thuật cũng như nội dung pháp luật cần tuyên truyền… Vì vậy, đây là điều quan trọng cần xác định ngay từ đầu.

- Xây dựng nội dung thông tin tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet: Bước này bao gồm các thao tác như thu thập thông tin, biên soạn tài liệu, cung cấp ảnh (nếu có). Nội dung thông tin càng phong phú càng hấp dẫn được độc giả. Thông tin nên được biên soạn ngắn gọn, dễ hiểu, có hình ảnh minh họa sinh động và cần được cập nhật thường xuyên để tạo tính mới cho trang web.

- Thiết kế giao diện, hình thức trình bày: Một giao diện website được thiết kế khoa học, hợp lý sẽ thể hiện rõ được ý tưởng, mục đích của việc tuyên truyền pháp luật. 

- Quảng bá giới thiệu địa chỉ tuyên truyền trên mạng Internet: Mục đích của công việc này là để nhiều người biết và truy cập vào trang web. Thực hiện việc quảng bá, giới thiệu website có thể dựa vào các kênh thông tin phổ biến như truyền hình, đài phát thanh, báo chí… hoặc tổ chức lễ khai trương giới thiệu rộng rãi địa chỉ trang web.

- Cập nhật thông tin, duy trì việc tuyên truyền trên mạng Internet: Sau khi các bước trên được hoàn tất, để duy trì trang web và phát huy tác dụng trong tuyên truyền pháp luật đòi hỏi người làm phải cập nhật thông tin thường xuyên. Có thể nói đây là bước đòi hỏi sự đầu tư về thời gian và chi phí lớn nhất. Vì thế, người làm tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet phải thực sự quan tâm đến công việc này. Trên thực tế, có rất nhiều trang web đã được xây dựng xong nhưng chỉ sau một thời gian hoạt động, do ít thông tin, thông tin không cập nhật thường xuyên nên đã không đạt được các mục đích đề ra ban đầu. Vì vậy, để thông tin được duy trì thường xuyên cần đầu tư thích đáng cả về nhân lực và vật lực; chú ý đến vấn đề phát triển đội ngũ cộng tác viên; đầu tư kinh phí thích đáng đảm bảo chi phí thu thập thông tin, nhuận bút, biên tập, cập nhật lên mạng Internet…

Một điểm cần lưu ý trong tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet là vấn đề an ninh thông tin. Thời gian qua, tình hình an ninh thông tin trên Internet diễn biến phức tạp. Theo khảo sát sơ bộ có tới 80% các trang tin điện tử còn nhiều sơ hở trong đảm bảo an ninh thông tin, nhiều hệ thống thông tin còn có khiếm khuyết chưa được cập nhật và quan tâm đúng mức nên đã gây ra những sự cố đáng tiếc ảnh hưởng tới các dịch vụ hành chính điện tử, thương mại điện tử và các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin khác. Vì vậy, khi thực hiện tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet cần lưu tâm đến vấn đề bảo mật thông tin, biện pháp phòng, chống sự xâm nhập của các đối tượng bên ngoài.

3.1.Khái niệm, vai trò của thi tìm hiểu pháp luật   

1. Khái niệm về thi tìm hiểu pháp luật

Thi tìm hiểu pháp luật là hình thức thi do cơ quan nhà nư­ớc, các tổ chức, các doanh nghiệp tổ chức nhằm động viên, khuyến khích đối tượng tìm đọc, nâng cao hiểu biết pháp luật, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đối t­ượng và nâng cao dân trí pháp lý.

Thi tìm hiểu pháp luật là một trong các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, là cầu nối chuyển tải những nội dung pháp luật vào cuộc sống, là hình thức sinh hoạt văn hoá pháp lý có sức hấp dẫn và hiệu quả.

2. Vai trò của thi tìm hiểu pháp luật

Thi tìm hiểu pháp luật là một trong những hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật hấp dẫn, có hiệu quả cao, được sử dụng nhiều.

Thi tìm hiểu pháp luật có ­ưu thế là dễ dàng mở rộng được phạm vi đối tượng tuyên truyền (bao gồm cả ngư­ời dự thi và ngư­ời theo dõi cuộc thi); đáp ứng được yêu cầu phổ cập pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, phát huy được tính tích cực, chủ động của đối t­ượng dự thi và giúp họ nhận thức sâu sắc hơn nội dung pháp luật cần tìm hiểu, từ đó nâng cao ý thức pháp luật cho họ.

Một lợi thế khác của thi tìm hiểu pháp luật là có thể sử dụng đ­ược nhiều loại phương tiện thông tin đại chúng, bằng nhiều hình thức khác nhau và do đó có thể tổ chức đ­ược ở nhiều nơi, nhiều lúc, với phạm vi, mức độ khác nhau tuỳ theo yêu cầu và tình hình đặc điểm cụ thể.

Thông qua các hình thức thi, những nội dung pháp luật đư­ợc chuyển tải đến các đối tư­ợng một cách đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ hơn, sinh động hơn, tránh đ­ược sự cứng nhắc, khô khan; đối t­ượng tiếp nhận các kiến thức pháp luật một cách thoải mái và hoàn toàn chủ động, hiểu biết về pháp luật và khả năng áp dụng pháp luật của đối t­ượng đư­ợc nâng cao hơn. Bên cạnh đó, kiến thức pháp luật, kỹ năng tuyên truyền pháp luật của ng­ười tổ chức cũng được gọt dũa, được tôi luyện, trở nên tinh hơn, hiệu quả hơn. Nhờ vậy, pháp luật có điều kiện lan toả, dễ đi vào cuộc sống hơn, phát huy hiệu quả tốt hơn. Đây vừa là yêu cầu, đòi hỏi, vừa là vai trò của thi tìm hiểu pháp luật.

Thông qua thi tìm hiểu pháp luật, pháp luật được truyền tải đến cán bộ và nhân dân một cách trực tiếp và gián tiếp.

Trực tiếp chính là những đối tượng tham gia dự thi phải tìm hiểu pháp luật để làm bài, trả lời câu hỏi trên sân khấu.

Gián tiếp: tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của cuộc thi, thể lệ, câu hỏi thi trên các phương tiện thông tin đại chúng...qua đó pháp luật được tuyên truyền đến người dân.

3.2.Các loại hình thi tìm hiểu pháp luật   

Thi tìm hiểu pháp luật đ­ược thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, do mục đích, yêu cầu, điều kiện, hoàn cảnh và khả năng cụ thể quyết định. Có 4 loại hình thư­ờng được áp dụng nhiều trên thực tế là: thi nói, thi viết, thi trên mạng và thi trắc nghiệm.

Một cuộc thi cũng có thể sử dụng một, một số hoặc sử dụng tổng hợp các loại hình này.

1. Thi nói  (thông qua các hình thức cụ thể như thi vấn đáp, sân khấu...)

- Thi vấn đáp: Đây là hình thức thi mà ng­ười dự thi phải trả lời bằng miệng những câu hỏi của Ban Giám khảo về những nội dung pháp luật nào đó.

Vì vậy, thi vấn đáp là hình thức thi đòi hỏi người dự thi phải thu thập tài liệu pháp luật vừa phải hiểu và nắm vững các quy định pháp luật đó để có thể chủ động trả lời nhiều tình huống pháp luật được ban giám khảo đưa ra trên sân khấu. Vì các thí sinh không được sử dụng tài liệu pháp luật như hình thức thi viết, thời gian chuẩn bị trả lời câu hỏi rất ngắn nên phần trả lời của thí sinh trước Ban giám khảo là những kiến thức có thực của họ.

Tuy nhiên hình thức thi này đòi hỏi sự chuẩn bị công phu về nội dung và con người và đặc biệt là thời gian. Do đó, số lượng người tham gia dự thi bằng hình thức này sẽ không thể nhiều như đối với hình thức thi viết.

- Thi qua hình thức sân khấu: Là hình thức thi mà ng­ười dự thi (cá nhân hoặc tập thể) dùng sân khấu (sàn diễn) để thực hiện phần thi của mình. Ng­ười dự thi đồng thời là diễn viên chính, trong nhiều tr­ường hợp vừa là người xây dựng kịch bản. Do vậy, họ phải có một trình độ biểu diễn nghệ thuật nhất định mới hoàn thành đ­ược phần thi của mình. Họ cũng có điều kiện thể hiện được kiến thức, trình độ pháp luật cùng tài năng nghệ thuật và khả năng khác mà họ có. Hình thức thi này đòi hỏi sự chuẩn bị công phu về nội dung và hình thức thể hiện.

Thi qua sân khấu có thể khắc phục được nhược điểm chung của thi tìm hiểu pháp luật là khô khan, khó hấp dẫn người theo dõi cuộc thi và phần nào đó là đối với người thi. Vì như trên đã phân tích, đặc điểm của hình thức thi qua sân khấu là có sự lồng ghép giữa pháp luật và nghệ thuật. Do đó, ở hình thức này pháp luật được truyền tải tới người dự thi và người theo dõi cuộc thi nhẹ nhàng và tinh tế hơn.

Tuy nhiên, hình thức thi này đòi hỏi thời gian tổ chức thi kéo dài từ 1-2 ngày tập trung tại Hội trường nhưng đối với thí sinh bắt buộc phải hoàn thành phần thi của mình trong một thời gian nhất định. Hơn nữa, nó đòi hỏi ngư­ời dự thi phải có một trình độ nghệ thuật (và phần nào là năng khiếu) trong khi phần lớn ngư­ời dự thi lại không có đủ trình độ này và tốn kém về mặt kinh phí.

Thi sân khấu th­ường được sử dụng tại các cuộc thi nh­ư "Hoà giải viên giỏi", "Tuyên truyền viên pháp luật giỏi", "Hộ tịch viên giỏi", "Giáo viên giáo dục công dân - pháp luật giỏi", "Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, ph­ường, thị trấn với pháp luật" …

2.Thi viết

Là hình thức thi mà ng­ười dự thi trả lời các câu hỏi về những nội dung pháp luật nhất định bằng việc thể hiện lên giấy những hiểu biết của mình về các nội dung pháp luật đó.

Thi viết đ­ược sử dụng trong trường hợp cần tuyên truyền, phổ biến trên diện rộng những nội dung của một văn bản pháp luật nhất định (thi tìm hiểu pháp luật về an toàn giao thông, thi tìm hiểu Bộ luật Dân sự năm 1995, thi tìm hiểu Bộ luật Hình sự năm 1999... Hình thức thi này đư­ợc nhiều địa phương, đơn vị cơ sở, trường học, Sở Tư pháp (nhất là các Sở Tư pháp) tổ chức.

Hình thức này có thể áp dụng cho các cuộc thi khác nhau, ở những phạm vi và đối tư­ợng khác nhau. Nhiều ngư­ời có thể cùng tham dự, cùng làm bài thi. Người dự thi có điều kiện nghiên cứu văn bản, thảo luận, bàn bạc, thống nhất nội dung trả lời.

3. Thi trắc nghiệm:

Đây là hình thức thi mà ngư­ời dự thi trả lời các câu hỏi thi bằng việc lựa chọn phư­ơng án phù hợp trong các phư­ơng án đã đư­ợc Ban tổ chức chuẩn bị sẵn. Hình thức này có ưu điểm là nhanh, gọn và tạo được sự tự tin và cảm giác thoải mái cho người dự thi. Nhưng nhược điểm của nó là ngư­ời tổ chức thi phải mất nhiều công sức chuẩn bị nhiều phư­ơng án trả lời. Đồng thời, hình thức thi này có hạn chế nữa là người dự thi nhiều khi lựa chọn phương án trả lời theo cảm tính và ý chí chủ quan của mình chứ chưa chắc là do hiểu biết pháp luật.

Có 2 hình thức thi trắc nghiệm: trắc nghiệm trên giấy và trắc nghiệm điện tử. Trắc nghiệm điện tử có thể được thực hiện qua mạng hoặc qua hình thức thi trực tiếp trên sân khấu.

Như trên đã phân tích, thi trắc nghiệm trên giấy có ưu điểm dễ thu hút người tham gia dự thi vì tiết kiệm thời gian và công sức nhưng vẫn thể hiện khá đầy đủ sự hiểu biết pháp luật của họ. Tuy nhiên, trên thực tế, hình thức thi này rất ít được triển khai vì tính hiệu quả của loại hình này. Tương tự như hình thức thi viết, hình thức thi này rất dễ dẫn đến tình trạng sao chụp bài của nhau.

Thi trắc nghiệm điện tử qua mạng là một hình thức thi cần được mở rộng trong thời gian tới. Trắc nghiệm qua mạng với ngân hàng dữ liệu câu hỏi sẽ giúp người thi tự kiểm tra kiến thức bằng cách trả lời các câu hỏi trắc nghiệm và các phương án trả lời được cho sẵn, chương trình sẽ tự động tính điểm dựa trên câu trả lời của người thi và cho điểm. Qua đó, người thi sẽ tự đánh giá được kiến thức của mình.

Ưu điểm của hình thức thi này là người tham gia dự thi có thể trả lời câu hỏi ở bất kỳ thời gian nào phù hợp với điều kiện của họ và thời gian cho phép của cuộc thi; sự hiểu biết pháp luật của người thi được thể hiện ngay bằng số điểm hiện trên máy tính sau khi đã hoàn thành phần trả lời. Bên cạnh đó, hình thức thi này tiết kiệm thời gian, công sức và các chi phí về vật chất.

Hiện nay, đã có một số cơ quan, bộ, ngành đã đưa các phần mềm thi trắc nghiệm tìm hiểu kiến thức lên mạng như chương trình “thi trắc nghiệm kiến thức qua mạng Internet”.

Tuy nhiên, hình thức này cũng có nhược điểm riêng, đó là chỉ phù hợp với đối tượng cán bộ công chức, học sinh, sinh viên - là những người có trình độ hiểu biết kiến thức nói chung và pháp luật nói riêng tương đối cao. Đồng thời, đối tượng này được tiếp cận nhiều với công nghệ thông tin. Với các đối tượng khác, đặc biệt là đối với điều kiện, trình độ của người dân nông thôn và đồng bào dân tộc hiện nay sẽ rất khó khăn trong việc tiếp cận pháp luật thông qua hình thức này.

Đối với Việt Nam, hình thức thi trên mạng còn rất mới mẻ, chư­a được sử dụng nhiều. Trong tư­ơng lai, hình thức thi này nếu tổ chức tốt sẽ trở thành hình thức thi có hiệu quả.

Thi trắc nghiệm trực tiếp trên sân khấu là một hình thức thi khá phổ biến hiện nay. Ưu điểm của hình thức này là sự sôi nổi, hào hứng của các thí sinh khi được trả lời trực tiếp trên sân khấu. Thí sinh thuận lợi hơn khi các phương án trả lời đã được Ban giám khảo đưa ra để lựa chọn. Đáp án của các thí sinh thể hiện kiến thức pháp luật thực có của các thí sinh đó. Pháp luật tuyên truyền thông qua hình thức thi này không chỉ hiệu quả đối với người tham gia cuộc thi mà còn hiệu quả đối với những người theo dõi cuộc thi.

Cách thức thi trắc nghiệm trực tiếp trên sân khấu tiến hành như sau: Người dẫn chương trình đọc câu hỏi và đưa ra các phương án để thí sinh lựa chọn. Câu hỏi và phương án trả lời đồng thời được chiếu lên màn hình để thí sinh tiện theo dõi. Tuy nhiên, để chương trình hấp dẫn hơn, các câu hỏi hoặc tình huống sẽ không chỉ dừng ở việc người dẫn chương trình đọc mà được thể hiện qua tiểu phẩm do diễn viên đóng.

Thi trắc nghiệm trực tiếp trên sân khấu có thể là các đội tham gia cuộc thi hoặc cá nhân đại diện cho một tập thể tham gia cuộc thi. Kinh nghiệm các cuộc thi cho thấy Ban tổ chức cuộc thi nên lựa chọn thi theo đội thì hiệu quả sẽ cao hơn.

Chương trình VTV2 - Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp đã với Tổng Cục thuế - Bộ Tài chính tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật về thuế. Cuộc thi được tổ chức theo hình thức thi trắc nghiệm trên sân khấu. Câu hỏi và tình huống được đưa ra thông qua người dẫn chương trình và tiểu phẩm do những diễn viên chuyên nghiệp đóng rất hấp dẫn người tham gia cuộc thi và người theo dõi cuộc thi.

4. Thi trên mạng internet

Internet (viết tắt từ International Network) là một mạng thông tin diện rộng, bao trùm toàn cầu, hình thành trên cơ sở kết nối các máy tính điện tử.

Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển với tốc độ cực kỳ nhanh nh­ư hiện nay thì việc sử dụng mạng lưới thông tin hiện đại phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, trong đó có thi tìm hiểu pháp luật là một nhu cầu cấp thiết và không phải là quá xa lạ đối với Việt Nam. Thi trên mạng là việc người dự thi chỉ cần ngồi tr­ước máy nhận nội dung yêu cầu thi từ Ban tổ chức (cũng qua máy) và trực tiếp trả lời hoặc trả lời sau đó, tuỳ yêu cầu cụ thể của Ban tổ chức.

Cần phân biệt hình thức thi này với các cuộc thi tìm hiểu pháp luật khác được phát trên mạng l­ưới truyền hình là hình thức thi bằng sân khấu, được truyền tải qua sóng truyền hình. Tuy nhiên, hình thức thi này vẫn là hình thức thi trong tương lai dù là trong t­ương lai gần. Hiện tại, điều kiện thực tế của Việt Nam ch­ưa cho phép chúng ta thực hiện trên diện rộng hình thức này.

3.3.Đối tượng tuyên truyền trong thi tìm hiểu pháp luật   

Tuỳ mục đích, yêu cầu, quy mô, hình thức của cuộc thi và hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mà đối tư­ợng tuyên truyền của cuộc thi tìm hiểu pháp luật cũng khác nhau. Nh­ưng nhìn chung, đối t­ượng tuyên truyền của một cuộc thi tìm hiểu pháp luật gồm 2 nhóm chính: Ng­ười dự thi và người theo dõi cuộc thi.

1. Ng­ười dự thi

Ng­ười dự thi là những ngư­ời có nhu cầu tìm hiểu pháp luật, là cán bộ, công chức, công nhân, nông dân, trí thức và những ng­ười lao động khác, là chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân, học sinh, sinh viên, thậm chí cả các phạm nhân, ngư­ời nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài... Tùy từng cuộc thi cụ thể mà người dự thi có thể thuộc một, một số hoặc tất cả các thành phần kể trên. Họ là những ngư­ời trực tiếp thực hiện các nội dung thi như trả lời câu hỏi (viết hoặc miệng), thể hiện  kiến thức, sự hiểu biết pháp luật và khả năng của bản thân trong việc áp dụng pháp luật, xử lý các yêu cầu cụ thể của cuộc thi (thể hiện tài năng ứng xử tr­ước các tình huống cụ thể thư­ờng gặp trong cuộc sống qua cách trình bày d­ưới dạng câu trả lời, tiểu phẩm, kịch ngắn, thơ, ca, hò, vè). Đối tượng này tham gia thi với t­ư cách là những "thí sinh" chính.

Bên cạnh đó, ng­ười dự thi còn là những người tuy không trực tiếp thực hiện các nội dung thi như­ các đối tượng trên đây (thí sinh) nhưng họ góp phần không nhỏ cho thành công của các cuộc thi tìm hiểu pháp luật. Đó là những người gần gũi với các "thí sinh" như­ anh, chị, em ruột, bố, mẹ, con cái, vợ chồng, đồng nghiệp, hàng xóm, láng giềng, bạn bè. Những ngư­ời này cũng có nhu cầu tìm hiểu pháp luật nh­ư thí sinh nh­ưng vì lý do nào đó (như­ không đủ điều kiện về thời gian, kiến thức hạn chế) hoặc e ngại hoặc chỉ muốn tạo điều kiện cho ng­ười thân của mình trực tiếp dự thi với t­ư cách thí sinh là đủ, họ chỉ tham gia dự thi với t­ư cách là người giúp đỡ, hỗ trợ, cộng tác, tham m­ưu cho thí sinh chính thực hiện thi.

Đây là đặc tr­ưng chính của cuộc thi tìm hiểu pháp luật, đòi hỏi các nhà tổ chức phải thực sự nhanh nhạy, tinh tế trong việc nắm bắt nhu cầu; khéo léo, khoa học trong xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thi tìm hiểu pháp luật sao cho phù hợp, sát thực, tiết kiệm và hiệu quả cao.

 

2. Ngư­ời theo dõi cuộc thi

Ngư­ời theo dõi cuộc thi không phải là người dự thi như đã đề cập trên đây. Bởi họ không trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia thực hiện các nội dung thi. Họ cũng không phải là ng­ười có trách nhiệm giám sát, đôn đốc, tổ chức cuộc thi. Xuất phát từ những mục đích khác nhau như­ không muốn, không thể hoặc không đ­ược tham dự, do tò mò, do có nhu cầu tìm hiểu pháp luật, theo dõi để biết, để động viên, cổ vũ ng­ười thân, để học hỏi kinh nghiệm..., mà họ đến với cuộc thi với t­ư cách là người xem.

Cách thức theo dõi cuộc thi cũng đa dạng, tuỳ hoàn cảnh, điều kiện cụ thể và tuỳ từng đối tư­ợng cụ thể: theo dõi qua các phư­ơng tiện thông tin đại chúng (truyền hình, truyền thanh, báo chí, tờ gấp, tranh ảnh, panô, áp phích), theo dõi trực tiếp diễn biến cuộc thi; qua trao đổi, tranh luận với bạn bè, đồng nghiệp, ngư­ời thân...

Dù với động cơ, mục đích nào thì ng­ười theo dõi đến với cuộc thi cũng hoàn toàn chủ động. Có thể nói tính chủ động của  đối tư­ợng này phần nào cao hơn tính chủ động ở một số người dự thi (bởi có một số ngư­ời dự thi không hẳn do mong muốn chủ quan mà là thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trước tổ chức, tập thể cộng đồng) . Do vậy, ở họ tính sẵn sàng, khả năng tiếp cận và tiếp nhận các thông tin, các nội dung pháp luật đ­ược cuộc thi đề cập cao hơn, hiệu quả tốt hơn, từ đó lư­ợng kiến thức pháp luật của họ đư­ợc tăng lên, phong phú hơn, năng lực vận dụng pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, công tác được tăng cư­ờng. Đây chính là mục đích, là hiệu quả của công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và là một ­ưu thế của thi tìm hiểu pháp luật nói riêng.

Trong thực tế, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật dù là do Trung ­ương tổ chức trên phạm vi toàn quốc hoặc do các ngành,  các địa phư­ơng, cơ quan, đơn vị tổ chức trong phạm vi của mình thì đối t­ượng theo dõi cuộc thi cũng chiếm tỷ lệ đáng kể, góp phần quan trọng vào thành công của cuộc thi. Đây là đối tư­ợng tuyên truyền quan trọng không thể thiếu trong các cuộc thi tìm hiểu pháp luật. Cuộc thi thu hút càng đông đảo ng­ười tham gia theo dõi thì thành công càng lớn, hiệu quả tuyên truyền càng cao.

3.4.Các công việc cần tiến hành khi tổ chức thi tìm hiểu pháp luật   

Mỗi cuộc thi tìm hiểu pháp luật thư­ờng có ba giai đoạn với các công việc chính sau:

1. Giai đoạn chuẩn bị

1.1. Hình thành chủ trương về cuộc thi

Thông th­ường căn cứ để hình thành chủ trư­ơng về cuộc thi là:

-  Ý nghĩa thời sự, tầm quan trọng của chủ đề pháp luật.

- Yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hình thành chủ trư­ơng về cuộc thi;

- Đối t­ượng cần ư­u tiên phổ biến, giáo dục pháp luật trong từng thời kỳ;

- Tình hình thực hiện pháp luật;

Cơ quan có sáng kiến về cuộc thi cần lập Tờ trình trình lãnh đạo xin ý kiến. Sau khi đ­ược cấp có thẩm quyền phê duyệt, Tờ trình sẽ là cơ sở tiến hành các b­ước tiếp theo để tổ chức cuộc thi.

1.2. Xây dựng  kế  hoạch tổ chức cuộc thi

Trong kế hoạch cần quy định rõ mục đích, yêu cầu, đối t­ượng, nội dung, hình thức thi; thời gian tổ chức cuộc thi; tiến độ thực hiện các công việc; Ban giám khảo, thành phần tham dự cuộc thi, kinh phí cuộc thi, cơ cấu giải thư­ởng.

Một vài gợi ý tham khảo trong xây dựng kế hoạch như sau:

- Mục đích của các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, bên cạnh mục đích riêng, đặc thù của từng cuộc thi thì mục đích chung của các cuộc thi tìm hiểu pháp luật hướng tới là nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ và nhân dân.

- Yêu cầu chung của các cuộc thi là đảm bảo tính phổ cập, thiết thực, dễ hiểu, hình thức thi sinh động, hấp dẫn, sáng tạo, không khí hào hứng, sôi nổi cuốn hút mọi người tham gia (đối với các cuộc thi trên sân khấu). Tuỳ thuộc vào tính chất cuộc thi, thời gian tổ chức và mục đích thi thì yêu cầu cuộc thi cần phải có là gắn hội thi với công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và hoạt động của cuộc thi nói riêng.

- Nội dung thi:

+ Quy định pháp luật của lĩnh vực pháp luật là chủ đề của cuộc thi.

+ Những kiến thức phổ thông về pháp luật, trong đó chú trọng về một số các quy định pháp luật liên quan tới chủ đề của cuộc thi. Ví dụ: các quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, dân sự, hôn nhân- gia đình, đất đai, hình sự, bảo vệ môi trường...

+ Những kiến thức về xã hội, đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp, hương ước, quy ước văn hoá...

+ Nêu rõ cuộc thi gồm mấy phần thi. Đối với các cuộc thi viết, thi trắc nghiệm (trên mạng và trên sân khấu): câu hỏi có thể được chia thành 2 phần: phần lý thuyết và phần tình huống. Riêng thi tìm hiểu pháp luật tổ chức trên sân khấu, để hấp dẫn người thi và người theo dõi,  bên cạnh việc trả lời các câu hỏi lý thuyết và phần xử lý tình huống, Ban tổ chức có thể yêu cầu các thí sinh thi phần năng khiếu. Phần năng khiếu, trong kế hoạch, Ban tổ chức cần quy định rõ các thí sinh phải trình bày những tiết mục gì (có thể là đóng kịch, hát, đọc thơ, diễn tiểu phẩm...gắn với nội dung pháp luật của cuộc thi).

-         Hình thức thi: Kế hoạch nên quy định rõ một số vấn đề sau:

+ Tổ chức thi cá nhân hay tập thể;

+ Loại hình thi (sân khấu, viết, thi qua mạng...);

+ Hội thi được tổ chức vòng sơ khảo và chung khảo như thế nào? tại từng vòng thí sinh phải thi những nội dung gì? đối với thi viết, thi trên mạng có thể thí sinh phải trả lời các câu hỏi lý thuyết và tình huống; tổ chức thi trên sân khấu, các thí sinh thực hiện 3 phần thi: lý thuyết, xử lý tình huống và năng khiếu.

* Vòng sơ khảo:

+ Cách thức thi: Kế hoạch về vòng thi sơ khảo cần quy định những vấn đề sau: thí sinh bốc thăm số báo danh trước khi chính thức vào dự thi (đối với hình thức thi trên sân khấu). Về phần thi, các thí sinh thể hiện sự hiểu biết của mình bằng việc trả lời các câu hỏi trên giấy (có thể viết hoặc đánh máy). Riêng phần thi trên sân khấu, kế hoạch cần quy định cụ thể về cách thức thi như sau:

Phần thi lý thuyết và xử lý tình huống: người dự thi theo thứ tự số báo danh lên sân khấu bốc thăm câu hỏi (lý thuyết, tình huống) và trả lời trực tiếp trước Ban giám khảo;

Quy định thời gian thi lý thuyết, xử lý tình huống và năng khiếu;

Phần năng khiếu: người dự thi tự trình diễn tiểu phẩm hoặc cùng phối hợp với người khác thực hiện, hát, đọc thơ...có nội dung liên quan tới chủ đề thi.

Kết thúc vòng sơ khảo, chọn số người đạt điểm cao dự thi vòng chung khảo.

* Vòng chung khảo:

Đối với hình thức thi viết, thi trên mạng, Ban Giám khảo tiếp tục lựa chọn những bài xuất sắc trong số những bài từ vòng sơ khảo chuyển lên để chọn những bài đạt giải nhất, nhì, ba và khuyến khích.

Kế hoạch nên quy định phần thi trên sân khấu theo cách thức như sau:

- Mỗi thí sinh (cá nhân hay tập thể) phải thực hiện mấy phần thi ? lý thuyết, xử lý tình huống và năng khiếu (đến vòng chung khảo, Ban tổ chức nên lựa chọn 2 trong 3 phần thi trên);

- Cách thức thi:

+ Phần thi xử lý tình huống, mỗi nhóm hoặc cá nhân xem một tình huống (qua băng hình hoặc tình huống được các diễn viên diễn trực tiếp trên sân khấu) chuẩn bị câu trả lời trên giấy, khi hết thời gian chuẩn bị từ 1-2 phút, lần lượt mỗi thí sinh đọc câu trả lời của mình trước Ban Giám Khảo.

+ Phần năng khiếu như vòng sơ khảo.

-   Kinh phí tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật:

Trong kế hoạch, phần I quy định về nội dung, phần II quy định về kinh phí thực hiện. Theo hướng dẫn tại mục 7 Phụ lục kèm theo Thông tư số 73/2010/TTLT-BTC - BTPngày 14/5/2010 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thì kinh phí dành cho cuộc thi tìm hiểu pháp luật ở cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp cơ sở được quy định như sau:

Bên cạnh việc căn cứ vào quy định trên, Ban tổ chức cuộc thi cần căn cứ vào Thông tư số 23/2007/TT-BTC ngày 21/3/2007 của Bộ Tài chính quy định về chế độ công tác phí, chế độ tổ chức Hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập để xây dựng kế hoạch và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

5.1.3. Thành lập Ban tổ chức cuộc thi

Thành phần Ban tổ chức cuộc thi gồm đại diện các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể có liên quan đến nội dung cuộc thi, đối tư­ợng dự thi hoặc đối tượng được tuyên truyền pháp luật. Ở những cuộc thi có phạm vi hẹp nh­ư tổ chức trong nội bộ một Bộ, ngành, đoàn thể... thì thành phần Ban tổ chức là đại diện các đơn vị hoặc các bộ phận có liên quan đến cuộc thi trong Bộ, ngành, đoàn thể đó.

Cơ sở pháp lý cho hoạt động của Ban tổ chức là Quyết định tổ chức cuộc thi và Quyết định thành lập của cấp có thẩm quyền, trong đó quy định rõ Tr­ưởng, phó Ban tổ chức, các thành viên; nhiệm vụ, quyền hạn của Ban tổ chức. Thông thường Trưởng ban tổ chức là đồng chí lãnh đạo cơ quan chủ quản phát động cuộc thi.

Nhìn chung, Ban tổ chức cuộc thi có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Ban hành Kế hoạch tổ chức Hội thi;

- Ban hành Quy chế Hội thi;

- Chủ trì, phối hợp với các thành viên của các cơ quan, đoàn thể có liên quan triển khai tổ chức Hội thi;                                   

- Thành lập Ban giám khảo, bộ phận thư ký;

- Thực hiện kế hoạch tổ chức cuộc thi từ giai đoạn chuẩn bị đến khi tổng kết;

Tổ thư ký có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Bộ phận giúp việc (hoặc Ban th­ư ký) cho Ban tổ chức gồm đại diện của các cơ quan tổ chức cuộc thi. Bộ phận giúp việc từ 3 đến 5 người tuỳ quy mô và tính chất cuộc thi, như­ng là những người am hiểu về nội dung hoặc có nghiệp vụ về loại hình thi. Bộ phận này có nhiệm vụ giúp Ban tổ chức thực hiện các công việc trong suốt quá trình tổ chức cuộc thi;

- Duy trì, đôn đốc tiến độ triển khai, thực hiện;

- Cập nhật số liệu cuộc thi, xây dựng phiếu chấm điểm; tổ chức buổi thi hoặc chấm thi tuỳ theo hình thức thi, duyệt kết quả và xếp giải;

- Tổ chức trao giải thư­ởng và tổng kết cuộc thi.

Với những cuộc thi có quy mô lớn, phạm vi rộng, cần có sự phối hợp tổ chức của nhiều Ban, ngành, đoàn thể thì kế hoạch cần phân công rõ trách nhiệm giữa các Ban, ngành là thành viên của Ban tổ chức. Với cuộc thi có quy mô, phạm vi nhỏ cũng rất cần có kế hoạch cụ thể để triển khai.

Có một số điểm cần l­ưu ý sau đây:

- Về thời gian cuộc thi đ­ược xác định, sắp xếp cho phù hợp với quy mô, phạm vi, nội dung và hình thức thi. Thời gian thi nên t­ương xứng với quy mô tổ chức và nội dung thi để những ng­ười dự thi kịp tham dự và có thời gian chuẩn bị tốt cho cuộc thi. Song cũng không vì thế mà kéo thời gian thi quá dài, sẽ làm giảm không khí sôi nổi cũng nh­ư làm mất đi tính thời sự của cuộc thi. Thời điểm tổ chức cuộc thi cũng có ý nghĩa quan trọng. Một mặt làm tăng thêm ý nghĩa cuộc thi. Mặt khác, cuộc thi góp phần tăng cường nhiệm vụ chính trị, quản lý trong địa bàn. Các mốc thời gian của cuộc thi thường dựa vào các ngày lễ lớn, gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương.

- Về kinh phí cuộc thi: là một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào sự thành công của mỗi cuộc thi. Kế hoạch cần dự toán t­ương đối chi tiết các khoản chi phí tổ chức cuộc thi trên tinh thần chi tiết kiệm mà vẫn đạt hiệu quả. Kinh phí cuộc thi bao gồm: kinh phí do cơ quan tổ chức cuộc thi hoặc cơ quan có đối tư­ợng được tuyên truyền pháp luật chịu trách nhiệm chính. Cuộc thi có nhiều cơ quan tham gia Ban tổ chức thì các cơ quan đó cùng có trách nhiệm hỗ trợ kinh phí dưới dạng quà tặng cho người đoạt giải, trao giải phụ.... Ngoài ra, cuộc thi có thể huy động tài trợ của các tổ chức, doanh nghiệp có lợi ích liên quan đến việc tìm hiểu và thực hiện pháp luật

- Về giải thư­ởng, tuỳ theo tính chất cuộc thi, đối tư­ợng dự thi và khả năng kinh phí mà Ban tổ chức quyết định về cơ cấu giải và giá trị giải (giải đặc biệt, nhất, nhì, ba, giải khuyến khích cho tập thể, cá nhân và các giải phụ). Giải thư­ởng có thể được trao bằng tiền, hiện vật hoặc trong những điều kiện cho phép, có thể mời ng­ười đạt giải đi xem các hoạt động văn hoá, tham quan du lịch... làm sao để giải th­ưởng không chỉ có ý  nghĩa khuyến khích về vật chất mà quan trọng là động viên tinh thần ng­ười tham dự cuộc thi.

1.4. Xây dựng thể lệ cuộc thi.

Mỗi cuộc thi có thể lệ riêng tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu hình thức của cuộc thi đó. Yêu cầu chung đối với thể lệ của một cuộc thi tìm hiểu pháp luật là có tính tuyên truyền, có sức thuyết phục, thu hút đ­ược đông đảo ngư­ời tham gia thi; ngắn gọn nh­ưng vẫn đảm bảo tính chính xác về nội dung thi và các thủ tục khác trong quá trình tổ chức cuộc thi.

Thể lệ cuộc thi tìm hiểu pháp luật bao gồm: đối t­ượng dự thi; các yêu cầu đối với bài dự thi, thời gian và nơi nhận bài thi (nếu là thi viết) hoặc các quy định về nội dung, cách thức thi (nếu là thi trả lời trực tiếp); thời gian tổ chức cuộc thi; giải thư­ởng; đơn vị tổ chức cuộc thi (Ban tổ chức) và những nội dung cần thiết khác.

Một số điểm cần lưu ý khi xây dựng thể lệ cuộc thi:

Bên cạnh việc quy định về nội dung từng phần thi, hình thức, cách thức thi, Quy chế quy định rõ cách giải quyết đối với trường hợp các thí sinh có tổng số điểm bằng nhau. Ví dụ, đối với cuộc thi trên sân khấu, trường hợp thí sinh có tổng số điểm bằng nhau thì thí sinh nào có số điểm phần thi xử lý tình huống cao hơn sẽ được chọn vào dự thi vòng chung khảo. Trường hợp thí sinh có tổng số điểm bằng nhau, trong đó điểm phần thi xử lý tình huống cũng bằng nhau thì sẽ bốc thăm và trả lời câu hỏi phụ về xử lý tình huống, thí sinh nào có số điểm trả lời câu hỏi phụ cao hơn sẽ vào dự thi vòng chung khảo.

Một số vấn đề quan trọng cần được quy định trong Quy chế là trách nhiệm của Ban Giám khảo, nguyên tắc chấm thi và giải thưởng.

- Trách nhiệm của Ban giám khảo:

+ Xây dựng bộ câu hỏi và đáp án;

+ Xây dựng thang điểm chấm thi;

+ Tổ chức chấm thi theo Quy chế Hội thi do Ban tổ chức ban hành

- Nguyên tắc chấm thi:

+ Đối với thi viết: Thành viên Ban Giám khảo chấm điểm cho mỗi thí sinh vào một phiếu điểm, ký và ghi rõ họ tên sau đó chuyển phiếu điểm cho Tổ thư ký để tổng hợp.

Ban Giám khảo sẽ cho điểm khuyến khích về sự sáng tạo trong nội dung trả lời và hình thức thể hiện (công phu, sạch đẹp...). Quy định điểm khuyến khích tối đa cho phần thi này, thường là 2 điểm.

+ Đối với phần thi trên sân khấu: bên cạnh những nguyên tắc như phần thi viết, Quy chế cần quy định Ban Giám khảo trừ điểm đối với thi sinh thực hiện phần thi quá thời gian quy định.

+ Điểm thi: Điểm của mỗi thí sinh ở hình thức thi viết là tổng số điểm của tất cả các phần thi.

Điểm của thí sinh ở hình thức thi trên sân khấu được tính như sau:

Điểm từng phần thi của mỗi thí sinh là điểm trung bình cộng của các giám khảo trừ đi số điểm do quá thời gian quy định (nếu có).

Điểm chính thức của thí sinh ở mỗi vòng thi là tổng số điểm của các phần thi ở vòng đó.

- Giải thưởng:

Ban tổ chức Hội thi căn cứ vào kết quả chấm thi của Ban giám khảo ở Vòng chung khảo sẽ xếp giải và trao thưởng ngay sau khi kết thúc Hội thi.

Đối với hình thức thi trên sân khấu, trường hợp thí sinh có tổng số điểm bằng nhau thì thí sinh nào có số điểm thi phần xử lý tình huống cao hơn sẽ được xếp giải cao hơn. Trường hợp thí sinh có điểm các phần thi đều bằng nhau thì sẽ bốc thăm và trả lời câu hỏi phụ về xử lý tình huống, thí sinh nào có số điểm trả lời câu hỏi phụ cao hơn sẽ được xếp giải cao hơn.

Ngoài các giải chính như giải đặc biệt, nhất, nhì, ba, khuyến khích, Ban Tổ chức có thể sẽ trao một số giải thưởng khác như: giải dành cho người thi cao tuổi nhất, giải dành cho người dự thi ít tuổi nhất, giải dành cho phần xử lý tình huống hay nhất, giải dành cho phần trình diễn năng khiếu hay nhất, giải dành cho tập thể có số lượng bài thi nhiều nhất...

1.5. Xây dựng bộ câu hỏi cho cuộc thi

Dù là hình thức thi nào: thi viết, thi trả lời trực tiếp, thi trên phư­ơng tiện thông tin đại chúng... thì việc xây dựng câu hỏi cho cuộc thi đều giữ vai trò quan trọng để góp phần nâng cao nhận thức pháp luật của ng­ười dự thi cũng như người theo dõi cuộc thi.

Việc đặt câu hỏi phải đạt đ­ược mục đích của cuộc thi, tức là nâng cao hiểu biết pháp luật về một lĩnh vực nào đó cho những ng­ười trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia. Câu hỏi phải phù hợp với đối t­ượng dự thi, giúp thí sinh dễ trả lời, có nội dung câu hỏi gắn với các tình huống sinh hoạt cộng đồng, tránh những câu hỏi có tính chất tổng hợp hoặc suy luận. Ngoài ra cũng cần ra câu hỏi sao cho Ban giám khảo, Ban chấm thi dễ chấm và dễ so sánh kết quả.

1.6. Thành lập Ban giám khảo (hoặc Ban chấm thi).

Ban tổ chức cuộc thi ra Quyết định thành lập Ban Giám khảo (hoặc Ban chấm thi) trong đó chỉ định Tr­ưởng Ban giám khảo (hoặc Trư­ởng Ban chấm thi). Thành viên Ban giám khảo là những ng­ười có uy tín, có nghiệp vụ và am hiểu về nội dung thi. Ban Giám khảo có nhiệm vụ tham gia xây dựng đáp án, quy chế chấm thi; chấm thi; trên cơ sở kết quả chấm, dự kiến xếp giải trình Ban tổ chức cuộc thi quyết định.

1.7. Chuẩn bị Đáp án cuộc thi và xây d­ựng Quy chế chấm thi.

Đáp án không chỉ đ­ưa ra nội dung và thang điểm chi tiết cho từng ý trong câu trả lời mà còn cần có thêm những yêu cầu, tiêu chí cụ thể về nội dung (mở rộng nội dung trả lời, có sự phân tích, so sánh hoặc ví dụ minh hoạ cho phần trả lời...) và hình thức thể hiện (phong cách trình bày mạnh lạc, dễ hiểu, lôi cuốn, gây cảm tình đối với ngư­ời theo dõi... hoặc bài dự thi làm công phu, viết rõ ràng, sạch đẹp...) để khuyến khích những đối tư­ợng dự thi hoặc những bài dự thi có chất lượng cao.

Quy chế chấm thi cần quy định rõ cách thức chấm và cho điểm để đảm bảo sự thống nhất trong đánh giá, trong chấm điểm giữa các thành viên Ban Giám khảo.

Tuy nhiên, ở những cuộc thi có thời gian tổ chức dài, thì việc thành lập Ban Giám khảo, xây dựng Đáp án và Quy chế chấm thi có thể được thực hiện đồng thời với các công việc khác ở giai đoạn tiến hành cuộc thi.

2. Giai đoạn tiến hành cuộc thi.

2.1. Phát động cuộc thi và công bố thể lệ, nội dung (hoặc câu hỏi) cuộc thi

Lễ phát động cuộc thi có các thành phần sau: lãnh đạo chính quyền địa phương, lãnh đạo của các cơ quan thành viên Ban tổ chức cuộc thi, lãnh đạo các đơn vị dân c­ư, các đoàn thể quần chúng, các cơ quan thông tin đại chúng, thông tin cổ động... Cần gắn cuộc thi với việc phát động phong trào tìm hiểu pháp luật, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong quần chúng nhân dân. Việc công bố về cuộc thi có thể đư­ợc thực hiện bằng cách đăng tải trên các ph­ương tiện thông tin đại chúng; hoặc thông báo thể lệ, nội dung cuộc thi đến các tổ chức, các đơn vị có đối t­ượng thi. Việc tổ chức lễ phát động cuộc thi nên áp dụng với các cuộc thi lớn, địa bàn rộng, nội dung liên quan đến nhiều thành phần trong xã hội.

2.2. Tuyên truyền về cuộc thi.

Để tạo điều kiện thuận lợi, thu hút đ­ược nhiều người dự thi nhất, Ban tổ chức cuộc thi cần sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến về cuộc thi nh­ư thông tin chi tiết về thể lệ, yêu cầu nội dung thi hoặc câu hỏi của cuộc thi; biên soạn, giới thiệu cung cấp các tài liệu, văn bản liên quan đến cuộc thi; tuyên truyền miệng trực tiếp hoặc qua hệ thống loa, đài truyền thanh ở cơ sở, áp phích thông báo ở những nơi công cộng; có thể kết hợp việc tuyên truyền văn bản pháp luật gắn với phần gợi ý trả lời câu hỏi thi... Đối với những cuộc thi có quy mô lớn, cần gắn việc tuyên truyền về cuộc thi với việc vận động nhân dân chấp hành pháp luật, với các phong trào của quần chúng ở cơ sở. Có nh­ư vậy, cuộc thi mới đư­ợc nhiều ngư­ời quan tâm, chú ý theo dõi và hưởng ứng, gây được không khí hào hứng tham gia cuộc thi.

2.3. H­ướng dẫn, theo dõi,  đôn đốc việc triển khai cuộc thi

Để cuộc thi đạt kết quả tốt, trong suốt giai đoạn tiến hành cuộc thi Ban tổ chức phải theo dõi diễn biến cuộc thi, định kỳ hoặc đột xuất họp để đ­ưa ra biện pháp đôn đốc cuộc thi. Đối với những cuộc thi quy mô, đư­ợc tổ chức từ trung ­ương đến cơ sở với nhiều đối tư­ợng dự thi, Ban tổ chức còn cần quan tâm h­ướng dẫn các đơn vị cấp dư­ới tiến hành các hoạt động triển khai cuộc thi để cuộc thi đ­ược tổ chức tốt ngay từ cơ sở.

2.4. Tổ chức buổi thi hoặc chấm thi.

Đây là công việc quan trọng, là khâu chính trong giai đoạn tiến hành cuộc thi, Tuỳ hình thức cuộc thi mà công việc này được thực hiện khác nhau.

- Đối với hình thức thí sinh trả lời trực tiếp, để buổi thi đạt hiệu quả tuyên truyền cao, không những cần chuẩn bị tốt về nội d­ung mà Ban tổ chức cần phải thực hiện một loạt các công việc chuẩn bị như­: làm thủ tục đăng ký danh sách người dự thi, chuẩn bị địa điểm thi, phổ biến quy chế thi.

- Đối với hình thức thi viết, ng­ười dự thi gửi bài thi đến Ban tổ chức nên cần tổ chức thu nhận bài thi đúng địa điểm, thời gian, trình tự và thủ tục đã đề ra. Ngay sau khi thu nhận bài thi, để tránh nhầm lẫn, mất mát và để thuận lợi khi chấm thi, phải vào sổ, đánh số thứ tự các bài thi, lập danh sách theo dõi, trong đó ghi rõ tên, tuổi, địa chỉ ngư­ời có bài thi. Bài thi nên được phân loại theo đơn vị dự thi để tiện cho việc thống kê, theo dõi và làm cơ sở cho việc xét tặng giải tập thể. Trước khi tổ chức chấm thi cũng cần phải loại các bài không hợp lệ. Thông thường các công việc này do bộ phận giúp việc cho Ban Tổ chức thực hiện.  Ở một số cuộc thi viết, bộ phận này có thể được giao nhiệm vụ chấm sơ tuyển lần 1 các bài dự trư­ớc khi chuyển cho Ban chấm thi.

Dù là hình thức thi trả lời trực tiếp hay thi viết, Ban giám khảo hoặc Ban chấm thi đều cần đ­ược quán triệt Quy chế chấm thi (phư­ơng pháp chấm và cho điểm), đáp án, thang điểm. Việc chấm thi, đánh giá phải đảm bảo chính xác, khách quan, nghiêm túc, công bằng. Các kết quả chấm thi được lư­u lại để làm cơ sở cho việc xét giải và để giải quyết những thắc mắc, khiếu nại (nếu có) phát sinh.

3. Giai đoạn  tổng kết cuộc thi.

Đây là phần việc cuối cùng của Ban tổ chức nhằm đánh giá toàn diện kết quả cuộc thi, rút kinh nghiệm về ph­ương pháp tổ chức và triển khai cuộc thi, từ đó phát huy kết quả cuộc thi trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đề ra phư­ơng hướng cho việc tổ chức các cuộc thi sau; đồng thời trao giải thư­ởng cho những người đạt giải. Để tạo được ấn tượng sâu sắc đối với các thí sinh về cuộc thi, một trong những phần việc Ban tổ chức cần lưu ý, đó là tổ chức Lễ tổng kết trao giải. Lễ tổng kết cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung, hình thức và các điều kiện hỗ trợ cần thiết như hội trường, âm thanh, ánh sáng, lôgô hội thi, băng rôn, cổ động viên, người dẫn chương trình và khách mời tham gia lễ tổng kết... sao cho thể hiện được cả phần “thi” trang trọng và phần “hội” sôi nổi, hấp dẫn.

Kết quả cuộc thi cần đ­ược công bố rộng rãi, bằng nhiều hình thức như tổ chức Lễ tổng kết và trao giải thưởng; thông báo trên các ph­ương tiện thông tin đại chúng; in thành tài liệu, sách... để vừa phát huy, nhân rộng kết quả cuộc thi, động viên những ng­ười dự thi, vừa khuyến khích, cổ vũ nhân dân tìm hiểu pháp luật, chấp hành, tuân thủ pháp luật.

Đối với hình thức thi trả lời trực tiếp, thông th­ường kết quả cuộc thi được công bố ngay sau khi kết thúc buổi thi, do đó cùng với việc chuẩn bị tổ chức buổi thi, Ban tổ chức cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức tổng kết cuộc thi và trao giải thư­ởng cho những người đạt giải ngay tại nơi diễn ra cuộc thi.

Cần l­ưu ý là các công việc phải thực hiện khi tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật đ­ược trình bày theo thứ tự trên đây chỉ mang tính chất tư­ơng đối. Tuỳ quy mô, tính chất cuộc thi, điều kiện thực tế của đơn vị tổ chức cuộc thi mà có thể nhiều công việc đ­ược tiến hành cùng lúc hoặc được thực hiện trong suốt quá trình triển khai cuộc thi. Việc sắp xếp thứ tự các công việc nh­ư trên nhằm mục đích giúp những người tổ chức thi hình dung đ­ược các công việc cần thực hiện, các bước cần tiến hành để tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật.

4.1.Biên soạn sách pháp luật phổ thông  

 

1. Phổ biến pháp luật thông qua sách pháp luật

Sách pháp luật là một loại tài liệu phổ biến pháp luật. Phổ biến pháp luật thông qua văn hoá đọc của người đọc sách là hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật đặc thù. Đặc trưng của hình thức này là truyền bá những nội dung, kiến thức pháp luật thiết yếu trong đời sống cho mọi người thông qua việc đọc sách. Người dân có thể chủ động tìm hiểu, nghiên cứu, tiếp cận kiến thức pháp luật qua việc đọc sách, nghiên cứu sách để đáp ứng nhu cầu của bản thân.

Có nhiều loại sách pháp luật:

-         Sách nghiên cứu pháp luật: bình luận khoa học, phân tích, giải thích các vấn đề, bình luận nội dung các điều luật, từ điển luật...

-         Sách dạy, học pháp luật: sách giáo khoa, sách tham khảo phục vụ việc giảng dạy và học pháp luật trong nhà trường.

-         Sách pháp luật phổ thông: sách hỏi đáp pháp luật, sách hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, sách pháp luật bỏ túi…

-         Sách hệ thống hoá văn bản pháp luật.

Cũng như các hình thức phổ biến pháp luật khác, phổ biến pháp luật thông qua sách pháp luật có những ưu thế nhất định.

Ưu thế:

-         Phổ biến được nhiều vấn đề, nhiều nội dung pháp luật;

-         Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của nhiều đối tượng với nhiều trình độ nhận thức khác nhau;

-         Người dân có thể tự tìm hiểu, tiếp cận và lĩnh hội các nội dung pháp luật qua việc đọc sách, chủ động nghiên cứu các vấn đề được viết trong sách;

-         Người dân chủ động về thời gian và các nội dung pháp luật cần tìm hiểu theo nhu cầu của bản thân.

Nhược điểm:

-         Hiệu quả việc phổ biến pháp luật qua sách pháp luật quan hệ chặt chẽ với chất lượng biên soạn sách;

-         Kiến thức người dân thu nhận được thông qua việc đọc sách, nghiên cứu sách pháp luật gắn với trình độ dân trí. Ở những nơi trình độ dân trí thấp hoặc tỷ lệ mù chữ cao, phổ biến pháp luật qua sách không đem lại hiệu quả mong muốn;

-         Phổ biến pháp luật qua sách phụ thuộc vào tính chủ động của người đọc, vào sở thích, thói quen đọc sách của người dân. Không thể bắt người dân đọc sách khi bản thân họ không muốn hoặc không có nhu cầu.

Tuỳ nội dung pháp luật và nhu cầu cần tìm hiểu, nghiên cứu, người đọc có thể quan tâm đến các loại sách khác nhau nhưng nhìn chung thì: 

-         Cán bộ nghiên cứu pháp luật thường sử dụng sách nghiên cứu, hệ thống hoá văn bản pháp luật.

-         Học sinh, sinh viên thường sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo phục vụ môn học pháp luật trong chương trình giáo dục.

-         Người dân có nhu cầu tìm hiểu pháp luật thường sử dụng sách phổ thông như sách hỏi đáp pháp luật, sách pháp luật bỏ túi hoặc hệ thống hoá pháp luật.

-         Cán bộ công chức thường sử dụng sách hệ thống hoá pháp luật, bình luận pháp luật, từ điển pháp luật.

          Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến việc biên soạn sách pháp luật phổ thông như một hình thức phổ biến pháp luật phục vụ nhu cầu tìm hiểu pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân. Để thực hiện được mục tiêu này, việc biên soạn sách pháp luật phổ thông phải đáp ứng được một số yêu cầu nhất định.  

2. Yêu cầu chung đối với việc biên soạn sách pháp luật phổ thông

- Thứ nhất về nội dung, nội dung sách phải gồm các vấn đề phổ biến, thường gặp trong đời sống hàng ngày, được nhiều người quan tâm, liên quan đến việc hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật, đến các trình tự, thủ tục thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân hoặc có liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

- Thứ hai về bố cục, sách phải có bố cục rõ ràng, kết cấu lôgic, chặt chẽ, câu văn ngắn gọn, súc tích; ngôn ngữ giản dị, bình dân, dễ hiểu và chỉ mang một nghĩa, giúp ng­ười đọc hiểu một cách chính xác, thống nhất đúng với các quy định của pháp luật và dễ thực hiện.

- Thứ ba về hình thức, sách cần đ­ược trình bày sáng sủa, khổ chữ vừa phải, dễ đọc, chất lượng in rõ, khổ sách và độ dày vừa phải, gọn gàng, dễ mang theo, thuận tiện cho người sử dụng. Sách phục vụ các đối tượng là trẻ em phải có tranh minh họa, sách phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số phải được dịch ra tiếng dân tộc kèm theo tranh minh hoạ giúp cho người sử dụng dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo.

- Thứ t­ư, giá sách hợp lý, phù hợp với mức thu nhập trung bình của nhân dân, tạo điều kiện cho nhiều ng­ười có nhu cầu có khả năng mua sách.

3. Tổ chức biên soạn sách pháp luật phổ thông

Việc tổ chức biên soạn sách pháp luật cần theo các bước sau:

3.1. Xây dựng kế hoạch biên soạn sách

Kế hoạch biên soạn sách cần có các nội dung:

-  Mục đích, yêu cầu biên soạn sách: căn cứ mục đích của việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong từng giai đoạn, từng địa bàn để xác định mục đích biên soạn sách: tuyên truyền về những vấn đề, những nội dung pháp luật gì, tuyên truyền cho đối tượng nào;

-  Đối t­ượng sử dụng sách: chính là đối tượng cần được tuyên truyền đối với sách pháp luật phổ thông đối tượng thường là những người dân có nhu cầu tìm hiểu pháp luật;

-  Các nội dung chủ yếu của cuốn sách (dự thảo đề cương sách hoặc kèm theo kế hoạch là Đề cương chi tiết cuốn sách);

-  Thời gian hoàn thành và giao nộp bản thảo;

-  Các thông số về cuốn sách: khổ sách, độ dày, số trang, số phát hành, giá bìa;

-  Số l­ượng in, nơi in;

-  Ph­ương thức phát hành;

-  Nguồn kinh phí phục vụ việc biên soạn, phát hành sách.

Có một số loại nguồn kinh phí như­ sau:

+   Sử dụng kinh phí tuyên truyền, phổ biến pháp luật do ngân sách Nhà n­ước cấp.

+  Kinh phí do Nhà xuất bản đầu tư­ nếu sách được Nhà xuất bản đặt hàng hoặc đưa vào danh mục đăng ký sách xuất bản trong năm. Trư­ờng hợp này thường Nhà xuất bản sẽ có trách nhiệm chính trong việc phát hành sách.

Kinh phí do dự án của các tổ chức quốc tế tài trợ để hỗ trợ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, th­ường áp dụng đối với sách pháp luật bỏ túi, tờ rơi, tờ gấp. Trong tr­ường hợp này các tài liệu thường được phát hành miễn phí cho nhân dân.

3.2. Thành lập Ban biên tập và dự kiến người tham gia biên soạn:

-  Trư­ởng Ban biên tập kiêm Chủ biên cuốn sách - là ngư­ời chịu trách nhiệm chính về nội dung cuốn sách, có trách nhiệm đọc, chỉnh lý và duyệt lần cuối cùng tr­ước khi đư­a in sách;

-  Ban biên tập là những người tổ chức quá trình biên soạn và trực tiếp biên tập;

Ng­ười tham gia biên soạn sách thường là các chuyên gia trong những lĩnh vực có liên quan đến nội dung sách.

3.3. Tổ chức họp Ban biên tập triển khai việc biên soạn và thống nhất các vấn đề.

-  Kế hoạch biên soạn sách,  mục đích, đối t­ượng sử dụng sách;

-  Nội dung sách: bố cục sách (mấy phần), nội dung cụ thể trong từng phần (đề cương chi tiết);

-  Thống nhất cách biên soạn;

-  Dự kiến ng­ười tham gia biên soạn;

-  Cung cấp các văn bản, tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung sách.

3.4. Biên tập

Biên tập lần một: Sau khi thu bản thảo, Ban biên tập tổ chức biên tập lần thứ nhất. Mục đích của việc biên tập lần thứ nhất là:

-         Xác định xem nội dung cuốn sách được biên soạn đã thể hiện đúng mục tiêu, yêu cầu và phù hợp với đối tư­ợng sử dụng như­ trong kế hoạch đề ra chưa.

-         Soát lại câu chữ, cách hành văn, ngữ pháp, lỗi chính tả và hình thức thể hiện cho thống nhất.

Sau khi biên tập lần thứ nhất nếu thấy bản thảo đạt yêu cầu thì gửi cho các chuyên gia để xin ý kiến thẩm định.

Nếu bản thảo chưa đạt yêu cầu Ban biên tập sẽ đề nghị người viết sửa lại theo đúng mục tiêu, yêu cầu trong kế hoạch đề ra.

Biên tập lần hai: trên cơ sở ý kiến của các chuyên gia thẩm định, biên tập viên đọc lại bản thảo  trực tiếp sửa chữa, chỉnh lý lại nội dung đối với những sai sót không nhiều, không ảnh hư­ởng lớn đến cuốn sách nếu thấy ý kiến của chuyên gia thẩm định là chính xác.

Biên tập viên đọc lại và hoàn chỉnh bản thảo sau đó đưa chủ biên đọc duyệt lần cuối.

Trường hợp có những sai sót lớn hoặc có ảnh hưởng đến bố cục hay nội dung sách thì cần báo cáo với chủ biên và đề nghị ng­ười viết biên soạn lại theo các ý kiến đóng góp.

3.5. Thẩm định

Ngư­ời thẩm định là các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực pháp luật liên quan đến nội dung sách. Người thẩm định chủ yếu đọc góp ý, sửa chữa nội dung sách, tính chính xác của các phân tích, giải thích và trích dẫn, các quy phạm pháp luật nêu trong sách.

3.6. In ấn, phát hành:

Đối với các sách biên soạn theo yêu cầu của nhà xuất bản thì chỉ cần chuyển bản thảo sang cho nhà xuất bản. Việc in và phát hành sẽ do nhà xuất bản đảm nhiệm. Đối với các sách do cơ sở tự biên soạn thì phải làm thủ tục như: xin giấy phép xuất bản, liên hệ với nhà in chuẩn bị các thủ tục in sách (làm ma két bìa, liên hệ với nhà in ký hợp đồng in có quy định rõ giá thành, phương thức thanh toán, xác định giá bán nếu là sách bán thu tiền). Nộp l­ưu chiểu sau khi in xong, giới thiệu sách trên các phư­ơng tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân.

4. Kỹ năng biên soạn nội dung sách pháp luật phổ thông

Sách pháp luật phổ thông gồm: sách hỏi đáp pháp luật, sách hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, sách pháp luật bỏ túi. Với mỗi loại sách có những điểm khác nhau trong kỹ năng biên soạn.

4.1. Sách hỏi đáp pháp luật

Sách hỏi đáp pháp luật có thể sử dụng để tuyên truyền, phổ biến một văn bản, một nội dung, một lĩnh vực pháp luật.

Nội dung sách hỏi đáp pháp luật có thể là một nội dung, một lĩnh vực pháp luật (như nuôi con nuôi, hộ tịch hay luật đất đai) hoặc gồm nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến các quan hệ xã hội thư­ờng gặp trong đời sống hàng ngày.

Bố cục sách có thể sắp xếp theo:

-         Theo đối t­ượng như: trẻ em, học sinh, phụ nữ, nông dân, người lao động trong các loại hình doanh nghiệp..

-         Theo vấn đề, theo nội dung pháp luật hoặc các lĩnh vực pháp luật: hợp đồng dân sự, thừa kế,  bồi thường thiệt hại, hình sự, lao động, kinh tế....

Kỹ năng biên soạn sách hỏi đáp pháp luật chủ yếu dựa trên phương pháp đặt câu hỏi và cách trả lời câu hỏi. Có các dạng câu hỏi sau:

-  Câu hỏi trực tiếp: hỏi trực tiếp vào nội dung vấn đề. Câu hỏi trực tiếp thường dùng trong trường hợp cần giải thích các khái niệm, các thuật ngữ pháp lý, hoặc các vấn đề có tính lý thuyết.

Ví dụ: “Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình”, “Công ty  trách nhiệm hữu hạn một thành viên là gì?”

Đối với câu hỏi trực tiếp, câu trả lời thường gồm hai phần: nêu định nghĩa (hoặc nội dung) của khái niệm, thuật ngữ; giải thích nội dung các khái niệm, thuật ngữ sau đó đưa ra một ví dụ minh hoạ.

- Câu hỏi gián tiếp: Câu hỏi gián tiếp được xây dựng trên cơ sở thông qua một tình huống, một sự việc thư­ờng xảy ra trong thực tế để đư­a ra câu hỏi. Câu hỏi gián tiếp thường được dùng trong các trường hợp tuyên truyền phổ biến các quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của người dân, các thủ tục hành chính trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Câu hỏi gián tiếp còn được sử dụng trong các trường hợp muốn làm rõ một quy định nào đó của pháp luật.

Ví dụ: “Bà M 55 tuổi, sống độc thân nên muốn nhận cháu T 11 tuổi làm con nuôi để có chỗ dựa khi về già, những bà vẫn phân vân do chưa biết các quy định về điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi, người được nhận làm con nuôi và thủ tục nhận nuôi con nuôi. Đề nghị cho chúng tôi biết các quy định của pháp luật về những vấn đề trên”.

Đối với câu hỏi loại này trước tiên cần trả lời trực tiếp vào tình huống câu hỏi đặt ra sau đó chỉ dẫn đến các quy định của pháp luật trong các văn bản có liên quan đến câu hỏi để người dân có thể tìm hiểu thêm khi cần. Cũng có thế đảo lại bằng cách đưa ra các quy định của pháp luật liên quan đến tình huống trong câu hỏi, sau đó dựa trên các quy định đó trả lời cho tình huống được hỏi.

- Câu hỏi mở: thông qua một tình huống, một sự việc để hỏi về một vấn đề. Câu hỏi mở th­ường áp dụng trong trường hợp hướng dẫn cách giải quyết một vụ việc, hướng dẫn việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân.

Ví dụ: “Nhà ông H mở lò mổ gia súc ngay trong khu dân c­ư làm ô nhiễm môi trường sinh hoạt của cả khu, khi chúng tôi có ý kiến thì ông bảo mọi ng­ười đều có quyền tự do kinh doanh. Trong trư­ờng hợp này chúng tôi phải làm gì để giữ gìn được môi tr­ường sống mà không ảnh hư­ởng đến quyền tự do kinh doanh của ông H”.

Đối với câu hỏi loại này câu trả lời cần phân tích sự việc, đối chiếu với quy định của pháp luật sau đó h­ướng dẫn cách giải quyết cụ thể.

Tuy nhiên, dù câu hỏi đ­ược đặt dưới dạng nào cũng cần ngắn gọn, rõ ràng, chỉ hỏi về một vấn đề, một vụ việc hoặc một lĩnh vực nhất định để tránh trường hợp câu trả lời quá dài dòng gây rối, khó hiểu cho ng­ười đọc.

4.2. Sách hướng dẫn tìm hiểu pháp luật

Sách hướng dẫn tìm hiểu pháp luật thường sử dụng để tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật (luật, bộ luật, pháp lệnh, nghị định) mới ban hành, mới sửa đổi, bổ sung.

Việc biên soạn sách hướng dẫn tìm hiểu pháp luật phải đảm bảo các yêu cầu chung nêu trên.

Về nội dung, bố cục sách tìm hiểu pháp luật cần chú ý một số điểm sau:

-         Nội dung sách th­ường chỉ gắn với một văn bản pháp luật hoặc một số nội dung chính của một văn bản pháp luật.

-         Bố cục sách có thể như sau:

+  Vài nét về tình hình thực tế liên quan trực tiếp đến các vấn đề thuộc nội dung sách.

+  Giải thích các khái niệm, thuật ngữ nêu ra trong nội dung sách;

+  Các quy định của pháp luật về vấn đề nêu trong nội dung sách;

+  Các điểm mới, điểm sửa đổi, bổ sung (nếu có) so với các quy định pháp luật trước đây.

+  Hướng dẫn thực hiện.

Tất cả các nội dung trong sách đều phải viết thật ngắn gọn, cô đọng, rõ ràng mạch lạc dễ hiểu để sách không quá dài và quá nhiều chữ.

4.3.  Sách pháp luật bỏ túi

Về cơ bản sách pháp luật bỏ túi cũng giống với sách hướng dẫn tìm hiểu pháp luật

Nội dung sách pháp luật bỏ túi th­ường chỉ đề cập đến một hoặc hai vấn đề. Mỗi vấn đề là một phần độc lập. Trong từng phần, bố cục như sau:

+  Giải thích các khái niệm, thuật ngữ nêu ra trong nội dung sách;

+  Các quy định của pháp luật về vấn đề nêu trong nội dung sách;

+  Hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật trong nội dung.

Nội dung sách phải viết ngắn, gọn. Có thể viết chữ to nếu sách dành cho trẻ em, cho đồng bào dân tộc thiểu số, hoặc các đối tượng sau xoá mù chữ.

 

4.2.Biên soạn đề cương tuyên truyền pháp luật   

1. Một số vấn đề chung

1.1. Khái niệm đề cương

Đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật là tài liệu dùng để tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn, phổ biến một văn bản pháp luật, một vấn đề pháp lý mà người sử dụng có thể dựa vào đó để nghiên cứu nội dung văn bản, các trọng tâm cần tập trung tuyên truyền, phổ biến văn bản hoặc để biên soạn các tài liệu tuyên truyền khác một cách cụ thể, sát hợp, sinh động, phù hợp với bối cảnh, đối tượng nhưng vẫn đảm bảo cho đối tượng hiểu chính xác nội dung văn bản và thực hiện thống nhất. Mặt khác, đề cương tuyên truyền còn có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức triển khai tuyên truyền văn bản pháp luật phù hợp với từng loại đối tượng, trên từng địa bàn.

1.2. Sự cần thiết phải xây dựng đề cương tuyên truyền pháp luật

Nhiệm vụ cơ bản của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là làm cho mọi ngành, mọi cấp, mọi cơ quan, tổ chức, mọi công dân đều hiểu biết pháp luật để nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ, nhân dân. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai ở nhiều ngành, nhiều cấp, bằng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau. Yêu cầu xuyên suốt trong quá trình triển khai là mọi người phải hiểu đúng các quy định của pháp luật để từ đó vận dụng một cách thống nhất, vì vậy họ phải nắm bắt được tư tưởng chủ đạo của văn bản trước khi nắm văn bản, những vấn đề cốt lõi khi xây dựng văn bản quy định những vấn đề gì, quy định như thế nào và tại sao lại quy định như vậy. Việc xây dựng một quy phạm pháp luật, một văn bản quy phạm pháp luật luôn bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học, kỹ thuật, tài chính, phong tục, truyền thống, trình độ dân trí... Vì vậy, chỉ với những tài liệu, kiến thức đã tích luỹ được trong quá trình lâu dài và cả những gì nắm được trong quá trình dự thảo văn bản, với trình độ pháp lý và kinh nghiệm nghề nghiệp nhất định, người viết đề cương mới thâu tóm được tinh thần văn bản đưa vào đề cương.

Đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật còn có tác dụng hướng dẫn chỉ đạo việc triển khai tuyên truyền văn bản. Vì vậy, viết đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật bao giờ cũng giữ một vị trí quan trọng trong công tác chỉ đạo và tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật.

1.3. Đối tượng sử dụng đề cương

Đối tượng sử dụng đề cương tuyên truyền rất đa dạng, thường là các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, phóng viên báo đài, cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan tư pháp và cán bộ làm công tác pháp chế của các bộ, ngành, đoàn thể và các doanh nghiệp.

1.4. Yêu cầu của việc xây dựng đề cương

Xây dựng đề cương tuyên truyền pháp luật cần bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau:

Về hình thức: Bố cục đề cương phải rõ ràng, chặt chẽ, hợp lý. Ngôn ngữ được sử dụng trong đề cương phải là ngôn ngữ đại chúng, cách hành văn giản dị, trong sáng, dễ hiểu. Diễn đạt phải mạch lạc, súc tích, ngắn gọn.

Về nội dung: Đề cương phải tạo điều kiện cho người sử dụng hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của việc ban hành văn bản pháp luật, hiểu chính xác quy định của pháp luật, nắm được nội dung chính, những vấn đề trọng tâm của văn bản pháp luật, cách vận dụng văn bản trong các quan hệ pháp luật.

Về thời gian: Để đảm bảo tính thời sự của văn bản, đề cương tuyên truyền cần được biên soạn và cung cấp kịp thời cho các đối tượng để tổ chức triển khai tuyên truyền, phổ biến trước ngày văn bản có hiệu lực pháp luật, tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật được thống nhất.

1.5. Yêu cầu đối với người viết đề cương

 Để đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật có chất lượng, yêu cầu người viết đề cương tuyên truyền pháp luật cần đáp ứng các yêu cầu sau đây:

-  Có trình độ pháp lý nhất định. Chất lượng của đề cương tuyên truyền pháp luật phụ thuộc nhiều vào trình độ pháp luật của người viết đề cương, vì thế để đảm bảo yêu cầu tối thiểu của đề cương, người viết đề cương phải được đào tạo về pháp luật hoặc có nhiều năm công tác thực tiễn trong lĩnh vực đó.

-  Nắm vững nội dung văn bản. Người viết đề cương tuyên truyền pháp luật  có thể là người trực tiếp tham gia vào quá trình soạn thảo, cho ý kiến hoặc thẩm định nội dung văn bản pháp luật đó, thì họ chính là người hiểu rõ nhất những nội dung quan trọng và những vấn đề cốt lõi của văn bản pháp luật (như đối tượng, phạm vi điều chỉnh). Trong trường hợp, người viết đề cương tuyên truyền không phải là người trực tiếp tham gia vào quá trình soạn thảo, cho ý kiến hoặc thẩm định nội dung văn bản pháp luật đó, thì cần phải tìm hiểu và nắm vững nội dung của văn bản đó trước khi viết đề cương.

-  Hiểu sâu sắc vấn đề mà văn bản pháp luật điều chỉnh. Để đáp ứng yêu cầu này, người viết đề cương phải nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng về các vần đề cần nêu, các văn bản gốc và các văn bản có liên quan khác nếu có, tìm hiểu pháp luật của nước ta trước đây và pháp luật của nước ngoài quy định về vấn đề đó, các tài liệu, lý luận, giáo khoa và đôi khi phải tìm hiểu cả về mặt kỹ thuật nghiệp vụ trong lĩnh vực đó.

-  Hiểu rõ  đối tượng sử dụng đề cương. Đối tượng sử dụng đề cương tuyên truyền pháp luật thường là cán bộ làm công tác tuyên truyền của các ngành, các cấp; báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật của các cơ quan, đơn vị, tổ chức và đội ngũ phóng viên, biên tập viên của các cơ quan thông tin đại chúng chuyên viết về pháp luật để từ đó người viết đề cương tuyên truyền có cách viết cho phù hợp với trình độ, nghề nghiệp, tâm lý lứa tuổi...

-  Nắm vững tình hình kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống ... tình hình vi phạm pháp luật và yêu cầu quản lý về từng lĩnh vực. Do đó, người viết đề cương tuyên truyền cần phải tích luỹ tài liệu, kiến thức, bám sát thực tế cuộc sống, có quan hệ phối hợp rộng rãi với các cơ quan ban, ngành.

-  Có vốn ngôn ngữ phong phú, lối hành văn giản dị, trong sáng, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ vận dụng. 

2. Nội dung cơ bản của Đề cương

Đề cương tuyên truyền một văn bản pháp luật thường bao gồm 3 phần chính sau đây:

Phần 1. Những vấn đề chung

Phần này thường nêu sự cần thiết, mục đích, ý nghĩa của việc ban hành văn bản. Phần này cũng cần nêu nguồn gốc pháp lý của văn bản (xuất phát từ Hiến pháp, Luật hoặc các văn bản quy phạm khác), vị trí, vai trò của văn bản trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Quan điểm và những nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng văn bản pháp luật; tư tưởng chủ đạo và yêu cầu của công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội trong đời sống hàng ngày và yêu cầu của chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta.

Phần 2.  Giới thiệu văn bản

Một trong những yêu cầu vô cùng quan trọng của đề cương tuyên truyền là giúp đối tượng nắm bắt một cách khái quát về nội dung của văn bản đó mà không thể đi sâu giới thiệu hết các chương, các điều của văn bản đó. Vì vậy phần đầu của đề cương phải giới thiệu bố cục của văn bản với nguyên văn tên các phần, chương, mục để người đọc khái quát được nội dung của văn bản pháp luật đó.

Giới thiệu bố cục văn bản: số chương, tên các chương, số điều trong chương để người sử dụng có thể hình dung khái quát nội dung văn bản.

Nội dung chủ yếu của văn bản:

- Nhiệm vụ của văn bản;

- Đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh của văn bản;

- Những nguyên tắc chung chi phối các quy định trong văn bản;

- Những vấn đề được đề cập trong nội dung văn bản, ý nghĩa các quy phạm, chế định trong văn bản;

- Những điểm mới trong văn bản so với pháp luật hiện hành, những điểm sửa đổi, bổ sung, lý do sửa đổi, bổ sung, ý nghĩa của việc sửa đổi, bổ sung. Khi cần thiết có thể nêu một số vấn đề gây tranh luận, những vấn đề đang tồn tại;

- Quyền, nghĩa vụ của các chủ thể và những người có liên quan, các quy định, thủ tục phải thực hiện;

- Vị trí của văn bản trong hệ thống pháp luật hiện hành, các văn bản sẽ ban hành kèm theo (nếu có).

Phần 3. Tổ chức thực hiện

Đây là phần hướng dẫn người sử dụng đề cương chủ yếu là các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, các cơ quan thông tin đại chúng. Trong phần này cần làm rõ các vấn đề:

- Nêu trọng tâm, trọng điểm tuyên truyền, gắn tuyên truyền văn bản với việc thực hiện những chủ trương lớn, những vấn đề thời sự và yêu cầu quản lý của ngành, của địa phương;

- Đưa ra các gợi ý về biện pháp tổ chức thực hiện, phương pháp và hình thức tuyên truyền đối với từng loại đối tượng, từng địa bàn căn cứ vào nhu cầu của đối tượng và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương; đặc biệt là tập trung quan tâm đến đối tượng cần chú trọng tuyên truyền;

- Phương hướng phối hợp giữa ngành tư pháp, các ngành hữu quan và các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tổ chức tuyên truyền văn bản.

Phần 4. Phụ lục (nếu có)

Trong điều kiện có thể, đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật nên có các tài liệu tham khảo kèm theo bao gồm các số liệu, các trích dẫn để khẳng định, chứng minh, so sánh, mở rộng những vấn đề đã nêu trong đề cương nhằm giúp cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền pháp luật; báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật ở các cấp, các ngành có điều kiện tham khảo, dẫn chứng khi thực hiện các hoạt động tuyên truyền pháp luật cho cán bộ và nhân dân.

  1.      Các bước cần thiết để viết Đề cương

Để viết được một đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật hoàn chỉnh và có chất lượng,  thường được tiến hành qua các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị

- Nghiên cứu văn bản pháp luật mới ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung.

- Thu thập và nghiên cứu kỹ các tài liệu có liên quan trong quá trình xây dựng văn bản như: tờ trình về việc ban hành văn bản; báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp cho dự thảo văn bản; các văn kiện của Đảng, chính sách của nhà nước;  các tài liệu trong nước và nước ngoài liên quan đến nội dung văn bản để nắm được xuất xứ của văn bản (nếu là văn bản ban hành lần đầu), văn bản gốc và yêu cầu thực tế khách quan liên quan đến những nội dung cần sửa đổi, bổ sung (đối với văn bản sửa đổi, bổ sung).

-  Tìm hiểu đối tượng sử dụng, mục đích sử dụng đề cương để đưa ra các hướng dẫn, chỉ đạo cách thức, biện pháp tuyên truyền thích hợp.

-  Nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội, phong tục, truyền thống, tình hình vi phạm pháp luật, yêu cầu quản lý về lĩnh vực đề cập trong văn bản, để phân tích các vấn đề nêu ra trong văn bản đã đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội và yêu cầu của công tác quản lý trong lĩnh vực đó.

Bước 2: Biên soạn đề cương.

Trước khi viết một đề cương hoàn chỉnh, thường xây dựng bố cục đề cương chi tiết. Sau khi lãnh đạo thông qua bố cục đề cương, có thể:

- Trực tiếp biên soạn bằng cách dựa trên cơ sở đề cương chi tiết và các tài liệu đã được nghiên cứu để viết đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật.

- Phối hợp với các cơ quan chuyên môn tham gia soạn thảo văn bản đề nghị  viết theo bố cục đề cương chi tiết.

Bước 3: Biên tập đề cương.

Bước 4: Hoàn chỉnh, in ấn và gửi cho các đối tượng sử dụng

4.3.Biên soạn tờ gấp tuyên truyền pháp luật

1. Khái niệm, vị trí, vai trò của tờ gấp pháp luật

1.1. Khái niệm

 Tờ gấp tuyên truyền pháp luật là một loại tài liệu tuyên truyền pháp luật được biên soạn một cách ngắn gọn, rõ ràng trên khuôn khổ một tờ giấy nên dễ dàng, thuận tiện trong sử dụng, là một trong những hình thức tuyên truyền pháp luật hiệu quả.

1.2. Đối tượng sử dụng

So với các loại tài liệu phổ biến pháp luật khác như đề cương tuyên truyền văn bản pháp luật, bản tin... thì tờ gấp pháp luật có đối tượng sử dụng rộng rãi hơn,  từ cán bộ, công chức, người lao động, người sử dụng lao động, học sinh, sinh viên cho đến toàn thể nhân dân.

1.3. Ưu điểm của tờ gấp pháp luật:

-  Tờ gấp pháp luật hấp dẫn người đọc bằng hình thức thể hiện: in nhiều màu, có tranh ảnh minh họa, trình bày rõ ràng...

- Đầy đủ, chính xác, cụ thể về nội dung của vấn đề đưa vào tờ gấp tuyên truyền pháp luật như: những điều cấm, những điều được làm, nên làm, quy chế, thủ tục tiến hành công việc, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan hữu quan trong một lĩnh vực nào đó…

-  Thuận tiện cho việc sử dụng.

1.4. Một số hạn chế của tờ gấp pháp luật:

- Nội dung ngắn nên hạn chế về lượng thông tin.

- Giá trị sử dụng không được lâu bằng các tài liệu pháp luật khác.

2. Những kỹ năng chủ yếu trong việc làm tờ gấp tuyên truyền pháp luật.

2.1.  Biên soạn nội dung

- Căn cứ vào nhu cầu và đối tượng sử dụng, người được giao nhiệm vụ có trách nhiệm lựa chọn những nội dung pháp luật phù hợp với từng đối tượng để đưa vào tờ gấp.

Ví dụ: Tờ gấp tuyên truyền về quyền và nghĩa vụ của người lao động theo quy định của Bộ luật lao động. Có thể được chia thành:

Phần chung:  Quyền và nghĩa vụ của người lao động

Phần riêng:  Quyền và nghĩa vụ của người lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động là người cao tuổi...

- Cách thức thể hiện nội dung vào tờ gấp:

+  Hỏi - đáp trực tiếp.

+  Trả lời gián tiếp thông qua các tình huống pháp luật.   

2.2.  Xác định khuôn khổ của tờ gấp

Kích thước của tờ gấp được hiểu là chiều dài và chiều rộng của tờ gấp khi tờ gấp ở trạng thái trải ra hoàn toàn. Kích thước của tờ gấp phụ thuộc vào nội dung tờ gấp.

Nên ưu tiên tờ gấp có kích thước bằng khổ giấy A4, vì có  thể dùng tờ gấp này làm tờ mẫu phôtô nhân bản trên giấy A4 phát rộng rãi cho đối tượng tuyên truyền. Từ kích thước tờ gấp người ta dễ dàng chọn được số bình cho tờ gấp sao cho khi gấp lại tờ gấp có hình dáng sát với hình chữ nhật tiêu chuẩn.Ví dụ: tờ gấp khổ A4 khi gấp lại được 3 bình với kích thước 21 x 10.

2.3.  Bố cục tờ gấp (lên ma két) :

Bố cục tờ gấp gồm bố cục bìa, phần nội dung cho các trang, trám tranh, ảnh cho các trang, đặt tít của tờ gấp, tít của từng phần, chọn chữ, chọn màu và phân bố, làm vi-nhét cho từng trang.

Nếu coi tờ gấp có mặt trong, mặt ngoài và đánh số 1 vào trang đầu của mặt trong rồi lần lượt từ trong ra ngoài thì thường gấp tờ gấp sao cho trang cuối cùng là bìa trước, trang áp cuối là bìa sau. Tuy nhiên, với cách gấp khác hoặc với tờ gấp 5 bình, 7 bình thì việc xác định bìa trước, bìa sau có thể thay đổi. Bìa trước ghi tên của tờ gấp và tranh hoặc ảnh nhằm gây ấn tượng về chủ đề của tờ gấp. Bìa sau cũng có tác dụng làm tăng tính thẩm mỹ tờ gấp bằng những  khẩu hiệu, danh ngôn, tranh, ảnh…

Khi phân nội dung cho các trang, cố gắng để mỗi trang thể hiện được một phần nội dung của tờ gấp và giữa các phần có thứ tự lôgíc với nhau. Tít của từng phần có thể theo tên chương, mục của văn bản hoặc tự đặt sát với nội dung của nó. Việc trám tranh, ảnh vào các trang không những gây ấn tượng về nội dung mà còn làm tăng tính hấp dẫn của tờ gấp. Việc thay đổi kiểu chữ, cỡ chữ, chọn màu, phân bố màu, làm vi nhét cho tờ gấp . . . là những việc có tính chất mỹ thuật; nếu có điều kiện nên mời họa sĩ tham gia để tờ gấp được trình bày đẹp và hợp lý.

3. Tổ chức làm tờ gấp tuyên truyền pháp luật

3.1. Xây dựng kế hoạch làm tờ gấp tuyên truyền pháp luật.

Thông thường việc làm tờ gấp tuyên truyền pháp luật phải được đưa vào kế hoạch công tác năm của cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở các văn bản pháp luật mới được Quốc hội thông qua, văn bản của địa phương, nhu cầu tuyên truyền, phổ biến pháp luật của ngành, địa phương, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và chủ trương tăng cường quản lý trong ngành hoặc địa phương.

Tờ gấp tuyên truyền pháp luật cũng có thể phát hành để tuyên truyền, phổ biến lại một văn bản, hoặc phát hành đột xuất khi nhiệm vụ chính trị yêu cầu.

Cơ sở để làm tờ gấp tuyên truyền pháp luật là bản kế hoạch được lãnh đạo cơ quan, đơn vị phê duyệt.

Nội dung bản kế hoạch này gồm:

-  Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa và sự cần thiết phải phát hành tờ gấp tuyên truyền pháp luật.

- Đối tượng sử dụng.

- Nội dung tờ gấp (đề cương chi tiết).

- Hình thức thể hiện.

- Các thông số cơ bản của tờ gấp: kích thước, số bình, số tranh ảnh trám vào tờ gấp, số màu sử dụng, số phát hành…

- Tổ chức triển khai kế hoạch ( phân công người biên soạn, người biên tập, duyệt nội dung).

- Tiến độ, thời gian và kinh phí thực hiện.

3.2.  Thiết kế tờ gấp tuyên truyền pháp luật

Sau khi đã hoàn chỉnh nội dung của tờ gấp, người được giao nhiệm vụ có trách nhiệm thực hiện một số công việc sau:

- Liên hệ với họa sĩ để thiết kế mẫu tờ gấp.

- Trình lãnh đạo cơ quan, đơn vị duyệt mẫu tờ gấp.

3.3.  Làm các thủ tục xuất bản tờ gấp tuyên truyền pháp luật:

Mẫu tờ gấp sau khi được phê duyệt, người được giao nhiệm vụ cần tiến hành một số công việc sau:

- Xin giấy phép xuất bản.

- Ký hợp đồng với nhà in, theo dõi việc in ấn.

- Nộp lưu chiểu theo quy định của pháp luật.

3.4. Tổ chức phát hành tờ gấp tuyên truyền pháp luật

Việc tổ chức phát hành tờ gấp cần căn cứ vào yêu cầu, mục đích và đối tượng cần tuyên truyền đã được xác định trong kế hoạch.Việc phát hành tờ gấp có thể gửi trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng hoặc thông qua cơ quan, tổ chức để cấp phát cho đối tượng.  

 

4.4.Xây dựng băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật   

 

1. Một số vấn đề chung về xây dựng băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật:

Băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật là một trong những tài liệu tuyên truyền pháp luật hiệu quả, truyền tải kiến thức pháp luật đến mọi người thông qua tiếng nói, hình ảnh.

Việc tuyên truyền pháp luật thông qua băng tiếng, băng hình có những ưu điểm và nhược điểm sau đây:

- Ưu điểm:

·        Hình thức truyền tải phong phú, hấp dẫn, sinh động; tác động đến đối tượng được tuyên truyền một cách trực tiếp thông qua âm thanh, hình ảnh nên dễ thu hút được sự quan tâm của đối tượng được tuyên truyền;

·        Cùng một lúc có thể tác động đến nhiều đối tượng;

·        Đối tượng được tuyên truyền có thể chủ động về thời gian xem, nghe, chủ động trong việc lựa chọn nội dung thích hợp đối với bản thân.

- Nhược điểm:

·        Tốn nhiều thời gian, công sức, nhất là đối với việc xây dựng băng hình;

·        Yêu cầu cần phải có các phương tiện thiết bị kỹ thuật để thực hiện việc thu, phát băng.

Khi xây dựng băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:

- Về nội dung: Nội dung băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật cần phải phù hợp với đối tượng được tuyên truyền, dễ hiểu, gắn với những vấn đề thường gặp trong đời sống sinh hoạt, sản xuất hàng ngày của đối tượng được tuyên truyền.

- Về hình thức: Băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật cần được thể hiện dưới nhiều thể loại khác nhau, phong phú, sinh động để hấp dẫn, thu hút người xem, người nghe. Băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật được thể hiện dưới các thể loại như:

·        Giải đáp pháp luật;

·        Thông tin văn bản pháp luật;

·        Phỏng vấn;

·        Tường thuật (phiên tòa, Hội thi…);

·        Phóng sự;

·        Kể chuyện;

·        Tiểu phẩm

·        Các tiết mục văn nghệ: ngâm thơ, hát…

Ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu; âm thanh, hình ảnh rõ nét, sống động.

Những băng tiếng, băng hình dùng để tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số cần được xây dựng bằng tiếng dân tộc để bảo đảm hiệu quả tuyên truyền.

2. Tổ chức xây dựng băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật:

Việc tổ chức xây dựng băng tiếng, băng hình được tiến hành như sau:

2.1 Giai đoạn chuẩn bị:

Bước 1: Xây dựng kế hoạch

Kế hoạch xây dựng băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật cần có các nội dung:

-  Mục đích, yêu cầu xây dựng băng tiếng, băng hình;

-  Đối t­ượng được tuyên truyền: xác định rõ đối tượng được tuyên truyền là ai;

-  Nội dung chủ yếu của băng tiếng, băng hình (dự thảo đề cương băng tiếng, băng hình);

- Một số yêu cầu kỹ thuật: Độ dài của băng, loại băng…

- Số lượng, phạm vi, phương thức phát hành;

-  Thời gian thực hiện: dự kiến tiến độ thời gian cho từng công đoạn thực hiện từ xây dựng nội dung, biên tập, duyệt nội dung, dàn dựng, thu băng;

- Tổ chức thực hiện: Phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện việc xây dựng, phát hành băng;

-  Kinh phí: Dự kiến kinh phí để thực hiện việc xây dựng băng và xác định nguồn kinh phí.

Bước 2. Thành lập Ban biên tập và dự kiến người tham gia xây dựng nội dung:

-  Ban biên tập là những người tổ chức quá trình xây dựng nội dung và trực tiếp biên tập (Thông thường Ban biên tập là lãnh đạo đơn vị trực tiếp phụ trách mảng công việc đó);

-  Trư­ởng Ban biên tập - là ngư­ời chịu trách nhiệm chính về nội dung băng, có trách nhiệm biên tập và duyệt lần cuối cùng tr­ước khi thu băng;

 Dự kiến người biên soạn nội dung băng;

- Dự kiến người viết (chuyển thể) kịch bản băng;

- Dự kiến người dàn dựng nội dung kịch bản của băng;

- Dự kiến người thu, in băng.

Lưu ý: Trên cơ sở nội dung băng đã được Trưởng ban biên tập duyệt, có thể thuê một đơn vị sản xuất băng tiếng, băng hình thực hiện hợp đồng dịch vụ trọn gói từ viết kịch bản, dàn dựng và thu băng.

Bước 3: Tổ chức họp Ban biên tập và các chuyên gia tham gia xây dựng nội dung băng để thống nhất các vấn đề:

-  Kế hoạch xây dựng băng, mục đích, đối t­ượng sử dụng băng; nội dung băng;

-  Thống nhất cách thức xây dựng nội dung băng;

-  Dự kiến ng­ười tham gia xây dựng nội dung băng, phân công cụ thể phần trách nhiệm của từng người;

-  Cung cấp các văn bản, tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung băng.

2.2. Giai đoạn 2: Xây dựng băng

Bước 1: Xây dựng nội dung chi tiết

Trên cơ sở nội dung cơ bản của băng đã được duyệt trong kế hoạch, các chuyên gia tiến hành xây dựng chi tiết nội dung của băng bảo đảm các yêu cầu sau:

·        Phù hợp với mục đích, đối tượng, đề tài cần tuyên truyền;

·        Bố cục rõ ràng, hợp lý;

·        Chính xác về nội dung pháp luật;

·        Được thể hiện ngắn gọn, sinh động, phong phú.

Bước 2: Biên tập, duyệt nội dung băng

·        Nếu bản thảo chưa đạt yêu cầu, Ban biên tập sẽ đề nghị người viết sửa lại theo đúng mục đích, yêu cầu đặt ra trong kế hoạch;

·        Nếu bản thảo đạt yêu cầu thì tiếp tục chuyển thể kịch bản cho băng.

Bước 3: Viết kịch bản

Trên cơ sở nội dung chi tiết của băng đã được duyệt, thuê người viết (chuyển thể) kịch bản. Kịch bản phải bảo đảm các yêu cầu sau:

·        Không sai lệch nội dung chi tiết của băng đã được duyệt;

·        Ngôn ngữ phù hợp với đối tượng và địa bàn tuyên truyền.

Bước 4: Biên tập, thẩm định,  duyệt kịch bản

Biên tập lần 1:

·        Nếu kịch bản đã đạt yêu cầu thì chuyển đến các chuyên gia để thẩm định;

·        Nếu kịch bản chưa đạt yêu cầu thì Ban biên tập đề nghị người viết kịch bản bổ sung, chỉnh sửa lại.

Thẩm định:

Người thẩm định là các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, văn hóa – xã hội; các chuyên gia thẩm định đọc, góp ý, sửa chữa, bảo đảm tính chính xác về nội dung pháp luật và tính phù hợp về văn hóa, phong tục, tập quán trong ngôn ngữ thể hiện và trang phục biểu diễn.

Biên tập lần 2, duyệt:

Trên cơ sở ý kiến của các chuyên gia thẩm định, Ban biên tập đọc lại bản thảo  trực tiếp sửa chữa, chỉnh lý, hoàn chỉnh kịch bản. Trưởng ban biên tập đọc, duyệt lần cuối.

Bước 5: Dàn dựng kịch bản

Từ kịch bản của băng đã được duyệt, tổ chức dàn dựng kịch bản theo các phương thức sau:

·        Tự tổ chức dàn dựng kịch bản;

·        Hợp đồng với một đơn vị phát thanh, truyền hình, biểu diễn nghệ thuật để dàn dựng kịch bản băng.

2.3. Giai đoạn 3: Xuất bản và phát hành băng

Bước 1: Xin giấy phép xuất bản

Băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật thường thuộc tài liệu không kinh doanh. Trong trường hợp này, việc xuất bản băng tiếng, băng hình được thực hiện theo quy định tại Điều 22, Khoản 2 Điều 23 Luật xuất bản năm 2004 và Điều 11 Nghị định số 111/2005/NĐ-CP ngày 26/8/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xuất bản, cụ thể như sau:

·        Cục xuất bản chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin cấp giấy phép cho cơ quan, tổ chức ở trung ương, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam;

·        Sở Văn hóa – Thông tin chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép cho cơ quan, tổ chức của địa phương, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức của trung ương tại địa phương.

Bước 2: Thu, in băng

Sau khi được cấp giấy phép xuất bản, đơn vị tổ chức xây dựng băng có thể ký hợp đồng với một cơ sở sản xuất băng để thực hiện việc thu, in băng (đối với việc sản xuất băng hình có thể ghi hình trên sân khấu hoặc ghi hình ngoại cảnh).

Băng bảo đảm các yêu cầu:

·        Hình ảnh rõ nét, không bị vấp và loang màu;

·        Âm thanh trung thực, không bị lẫn tiếng ồn, tiếng rít.

Bước 3: Nộp lưu chiểu

Trước khi phát hành, băng tiếng, băng hình phải được nộp lưu chiểu theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 Luật xuất bản và Điều 12 Nghị định số 111/2005/NĐ-CP ngày 26/8/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xuất bản, cụ thể:

·        Ít nhất mười ngày trước khi phát hành, phải nộp ba bản cho Bộ Văn hóa - Thông tin; trường hợp số lượng in dưới ba trăm bản thì nộp hai bản;

·        Cơ quan, tổ chức có tài liệu do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép xuất bản, ngoài số bản phải nộp theo quy định trên còn phải nộp hai bản cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Bước 4: Phát hành

Có hai phương thức phát hành:

·        Phát trực tiếp đến đối tượng tuyên truyền;

·        Phát hành thông qua cơ quan, tổ chức liên quan để tổ chức tuyên truyền cho các đối tượng.

5.1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Câu lạc bộ pháp luật   

 

1. Khái niệm Câu lạc bộ pháp luật

Câu lạc bộ pháp luật là tổ chức được thành lập và hoạt động trên tinh thần tự nguyện tham gia của những người có nhu cầu tìm hiểu pháp luật, tích cực đấu tranh bảo vệ pháp luật, nhiệt tình tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật. Thông qua các hoạt động sinh hoạt của Câu lạc bộ nhằm góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, gây dựng lòng tin đối với pháp luật, nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, hình thành thói quen sống và làm việc theo pháp luật của các hội viên nói riêng và toàn thể nhân dân nói chung tại địa bàn.

Tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật được thực hiện trên cơ sở tuân thủ quy chế, điều lệ tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và chính sách pháp luật của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Câu lạc bộ pháp luật hoạt động định kỳ, thường xuyên dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức đoàn thể, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của ngành Tư pháp.

2. Những đặc điểm của Câu lạc bộ pháp luật

Việc xác định những đặc điểm của Câu lạc bộ pháp luật nhằm phân biệt mô hình này với các loại hình Câu lạc bộ khác. Điều này đồng thời giúp cho việc xác định tiêu chí, mục đích, nội dung cũng như phương thức tổ chức hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật được rõ ràng, dễ áp dụng.

Dựa trên mục đích thành lập, tổ chức hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật, Câu lạc bộ pháp luật có những đặc điểm cơ bản như sau:

- Là tổ chức được thành lập và hoạt động dựa trên nguyên tắc tự giác, tự nguyện của các cá nhân thành viên với mục đích chủ yếu để có cơ hội được giao lưu, học hỏi, tìm hiểu pháp luật và nâng cao nhận thức pháp luật;

- Câu lạc bộ có cơ cấu tổ chức bao gồm Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ và các hội viên; hoạt động tuân thủ điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

- Hoạt động của Câu lạc bộ được tổ chức định kỳ, thường xuyên dựa trên kế hoạch hoạt động hàng tháng, hàng quý, 6 tháng, năm do Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ đề ra và được toàn thể thành viên Câu lạc bộ nhất trí thông qua.

- Câu lạc bộ hoạt động thông qua các buổi sinh hoạt tập thể theo các hình thức sinh hoạt phong phú, linh hoạt, phù hợp với từng thời kỳ và đối tượng;

- Số lượng thành viên Câu lạc bộ không hạn chế, luôn được phát triển mở rộng thu hút đông đảo cán bộ, nhân dân tham gia;

3. Vai trò của Câu lạc bộ pháp luật

Câu lạc bộ pháp luật được xác định là một hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật có hiệu quả, phù hợp với mọi đối tượng và địa bàn dân cư khác nhau. Thực tiễn những năm qua cho thấy, mặc dù số lượng Câu lạc bộ pháp luật được thành lập chưa nhiều, nhưng tác dụng, hiệu quả, sức lan toả tích cực của mô hình này là không nhỏ trong đời sống cộng đồng dân cư. Điều này được khẳng định trước hết vì Câu lạc bộ là nơi quy tụ, tập hợp đông đảo thành viên tham gia nhằm giao lưu, học hỏi, tạo một diễn đàn, sân chơi bổ ích và lành mạnh để cùng trao đổi, nắm bắt kiến thức pháp luật và vận dụng pháp luật.

Thông qua hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi và kịp thời. Từ đó, giúp hội viên và nhân dân trên địa bàn nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và tự giác chấp hành pháp luật, đưa pháp luật dần trở thành thói quen trong ứng xử hàng ngày của nhân dân. Câu lạc bộ còn tạo điều kiện để mỗi hội viên trở thành một tuyên truyền viên pháp luật tích cực vận động người thân trong gia đình, địa bàn mình cư trú chấp hành pháp luật.

Câu lạc bộ pháp luật huy động sự quan tâm, phát huy tính tích cực, phối kết hợp của các cấp, các ngành, đoàn thể hữu quan trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao dân trí pháp lý, đưa công tác này trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Vì lẽ đó, hoạt động của Câu lạc bộ góp phần không nhỏ trong việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt là phong trào đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

 

5.2.Thành lập, tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật   

1. Xây dựng, thành lập Câu lạc bộ pháp luật

1.1. Khảo sát, lựa chọn địa điểm nơi thành lập Câu lạc bộ

Khảo sát, lựa chọn địa điểm thành lập Câu lạc bộ là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đầu tiên trong quá trình thành lập và đưa Câu lạc bộ đi vào hoạt động. Hoạt động này do cơ quan tư pháp các cấp trực tiếp hoặc phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể thực hiện, hoặc cũng có thể do bất kỳ một cơ quan, đơn vị, đoàn thể nào tiến hành nếu có nhu cầu xây dựng Câu lạc bộ. Việc khảo sát có thể được tiến hành ở cơ quan, đơn vị, địa phương, cơ sở thông qua kết quả đi thực tế điều tra, khảo sát hoặc xây dựng các phiếu điều tra tổng hợp.

Hoạt động khảo sát được thực hiện trên cơ sở việc phân tích, đánh giá tình hình kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội, điều kiện dân trí, mức độ hiểu biết pháp luật của từng cá nhân trong một tập thể hay địa bàn cụ thể, vị trí địa lý, sự phân bổ dân cư, lao động, ngành nghề, đánh giá hiệu quả các mô hình, các phong trào tại địa phương...với mục đích sự ra đời của Câu lạc bộ phải phù hợp và thực sự đáp ứng nhu cầu của một bộ phận dân cư đang cần được quy tụ lại để sinh hoạt và học tập về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.

Dựa trên những tiêu chí cụ thể, kết quả khảo sát phải được tổng hợp, có so sánh, đối chiếu giữa các đơn vị cơ sở, địa bàn để phát hiện, chọn lọc, và lựa chọn địa điểm tiêu biểu, có tính chất cần thiết, đặc trưng, đặc thù cho các địa điểm còn lại để xây dựng Câu lạc bộ.

Kết quả khảo sát, điều tra phải được báo cáo cơ quan, đơn vị chủ quản và các cơ quan, đơn vị hữu quan để thống nhất ý kiến, làm cơ sở tiền đề cho việc xây dựng kế hoạch thành lập Câu lạc bộ.

1.2. Xây dựng kế hoạch thành lập Câu lạc bộ

Kế hoạch thành lập Câu lạc bộ có ý nghĩa định khung cơ bản, trong đó phác thảo những nội dung chính phục vụ cho việc thành lập Câu lạc bộ. Kế hoạch cần được xây dựng cụ thể, phân định theo các nội dung rõ ràng, chi tiết giúp cho việc thực hiện được thuận lợi. Kế hoạch thành lập Câu lạc bộ bao gồm các nội dung cơ bản sau:

- Sự cần thiết phải xây dựng Câu lạc bộ;

- Mục đích, ý nghĩa của việc thành lập Câu lạc bộ;

- Chọn địa điểm thành lập Câu lạc bộ (theo các tiêu chí cụ thể: điều kiện kinh tế - xã hội; tình hình an ninh trật tự; ý thức chấp hành pháp luật của người dân...);

- Đối tượng tham gia Câu lạc bộ (thanh niên, phụ nữ, nông dân, học sinh, sinh viên...trong đó xác định đối tượng nòng cốt của Câu lạc bộ);

- Cơ cấu tổ chức của Câu lạc bộ (dự kiến Ban chủ nhiệm và số lượng hội viên sáng lập, nguyên tắc hoạt động của Câu lạc bộ);

- Địa điểm tổ chức sinh hoạt của Câu lạc bộ;

- Nội dung và hình thức sinh hoạt của Câu lạc bộ;

- Kinh phí tổ chức hoạt động;

- Trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành trong việc phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức hoạt động, kiểm tra hoạt động Câu lạc bộ.

Kế hoạch thành lập Câu lạc bộ cần được đưa ra lấy ý kiến các cơ quan, ban, ngành, đơn vị cơ sở, sau đó trình cơ quan, đơn vị chủ quản phê duyệt.

1.3. Vận động tham gia thành lập, xây dựng dự thảo Điều lệ, Quy chế tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ và ra quyết định thành lập Câu lạc bộ

1.3.1. Vận động tham gia thành lập Câu lạc bộ:

Việc vận động tham gia thành lập Câu lạc bộ do các sáng lập viên, chủ yếu là Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ (gọi là Ban chủ nhiệm lâm thời) tiến hành, bao gồm:

- Tổ chức tuyên truyền về ý nghĩa, mục đích, vị trí, vai trò, nội dung hoạt động của Câu lạc bộ trong cơ quan, đơn vị, địa phương nơi thành lập Câu lạc bộ để thu hút số lượng hội viên đăng ký tham gia; Lập danh sách hội viên Câu lạc bộ trình cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập Câu lạc bộ phê duyệt;

- In thẻ hội viên Câu lạc bộ (Thẻ hội viên được phát cho các hội viên tham gia Câu lạc bộ; Thẻ cần in ấn đơn giản, không cầu kỳ, hình thức nhỏ gọn, trong đó cần ghi rõ tên, địa chỉ cơ quan, đơn vị, địa phương nơi thành lập Câu lạc bộ và dòng chữ "THẺ HỘI VIÊN CÂU LẠC BỘ PHÁP LUẬT");

- Chuẩn bị cơ sở vật chất, điều kiện tài chính phục vụ hoạt động của Câu lạc bộ; chuẩn bị tổ chức Lễ ra mắt Câu lạc bộ;

1.3.2. Xây dựng dự thảo Điều lệ, Quy chế tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật

Điều lệ, Quy chế tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật cần được xây dựng chi tiết, cụ thể, tuân thủ quy định của pháp luật và không trái thuần phong mỹ tục của nhân dân, bao gồm các nội dung chính sau đây:

+ Những quy định chung: quy định về khái niệm, tên gọi của Câu lạc bộ pháp luật; mục đích hoạt động, đối tượng tham gia Câu lạc bộ...

+ Tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật:

- Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ: quy định về điều kiện được bầu vào Ban chủ nhiệm như phẩm chất đạo đức, uy tín, trình độ hiểu biết pháp luật, khả năng giải thích, vận dụng pháp luật, quản lý hoạt động của Câu lạc bộ và sự tâm huyết, nhiệt tình đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật...

- Nhiệm kỳ và nguyên tắc hoạt động của Ban chủ nhiệm;

- Nhiệm vụ của Ban chủ nhiệm;

- Đối tượng tham gia Câu lạc bộ và số lượng hội viên (đối tượng tham gia Câu lạc bộ có thể mang tính chất đại diện đặc thù cho một ngành, một đoàn thể hay một loại đối tượng nhất định như: công nhân, nông dân, học sinh, thanh niên, phụ nữ...; bên cạnh đó có huy động sự tham gia của các đối tượng khác);

- Nguyên tắc hoạt động của Câu lạc bộ;

- Các hình thức sinh hoạt của Câu lạc bộ...

+ Quyền và nghĩa vụ của Chủ nhiệm, Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ pháp luật

- Đối với Chủ nhiệm Câu lạc bộ: Chủ nhiệm là người chịu trách nhiệm điều hành chung và chịu trách nhiệm toàn bộ các mặt hoạt động của Câu lạc bộ; có trách nhiệm lập kế hoạch hoạt động ngắn hạn, dài hạn của Câu lạc bộ; quản lý việc thu, chi tài chính của Câu lạc bộ; định kỳ đánh giá, rút kinh nghiệm và báo cáo kết quả hoạt động của Câu lạc bộ với người có trách nhiệm và cơ quan chủ quản.

- Đối với các Phó chủ nhiệm và các uỷ viên: thực hiện các công việc theo sự phân công của Chủ nhiệm. Phó chủ nhiệm thay mặt Chủ nhiệm giải quyết các công việc khi được Chủ nhiệm phân công và chịu trách nhiệm trước Chủ nhiệm về những công việc của mình được giao.

+ Quyền và nghĩa vụ của hội viên:

Quyền:

- Được cấp thẻ hội viên Câu lạc bộ;

- Được tham gia vào tất cả các hoạt động và các kỳ sinh hoạt của Câu lạc bộ;

- Được ứng cử, đề cử vào Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ;

- Tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào các kế hoạch, chương trình hoạt động của Câu lạc bộ do Ban chủ nhiệm đề xuất; biểu quyết, kiến nghị, đề đạt và bảo lưu các ý kiến của mình về tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ;

- Được cung cấp thông tin về pháp luật, mượn sách báo, tài liệu liên quan để nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật;

- Được yêu cầu Câu lạc bộ bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình trước pháp luật khi bị xâm hại;

- Có quyền xin thôi tham gia Câu lạc bộ khi có đơn xin ra khỏi Câu lạc bộ và không còn ràng buộc nghĩa vụ gì với Câu lạc bộ.

Nghĩa vụ:

- Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước;

- Tôn trọng, chấp hành Điều lệ, Quy chế tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ;

- Tham gia tích cực, đầy đủ các hoạt động, sinh hoạt của Câu lạc bộ;

- Tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân; vận động và giới thiệu các hội viên mới với Ban chủ nhiệm để kết nạp; tham gia giáo dục, cảm hoá những đối tượng lầm lỗi, có hành vi phạm pháp luật và hoà giải các tranh chấp, xích mích nhỏ tại địa phương;

- Thực hiện các công việc được Ban chủ nhiệm giao;

- Giữ gìn uy tín của Câu lạc bộ; không được lợi dụng danh nghĩa hội viên Câu lạc bộ pháp luật, thẻ hội viên để sử dụng vào các mục đích công việc khác;

- Đóng hội phí đầy đủ theo quy định của Câu lạc bộ.

+ Kinh phí hoạt động của Câu lạc bộ

Quy định về việc tạo nguồn kinh phí thu, chi để đảm bảo duy trì hoạt động của Câu lạc bộ; chế độ công khai tài chính...

+ Khen thưởng và kỷ luật

+ Điều khoản thi hành.

Điều lệ hoặc Quy chế tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật sẽ được các thành viên Câu lạc bộ biểu quyết thông qua và trình cơ quan ra quyết định thành lập Câu lạc bộ phê duyệt.

1.3.3. Ra quyết định thành lập Câu lạc bộ:

Để có cơ sở pháp lý chính thức công nhận và đưa Câu lạc bộ đi vào hoạt động, tuỳ theo mục đích, nhu cầu chọn điểm thành lập Câu lạc bộ, UBND huyện hoặc UBND xã, phường, thị trấn hoặc lãnh đạo cơ quan, đơn vị ban hành Quyết định thành lập Câu lạc bộ và phê duyệt danh sách thành viên ban đầu của Câu lạc bộ.

1.4. Tổ chức Lễ ra mắt Câu lạc bộ:

Lễ ra mắt Câu lạc bộ là hình thức công khai hoá tổ chức, hoạt động của Câu lạc bộ, chính thức đưa Câu lạc bộ đi vào hoạt động. Trong buổi lễ ra mắt, Câu lạc bộ phải thực hiện một số công việc sau:

- Công bố Quyết định thành lập Câu lạc bộ tại cơ quan, đơn vị, địa phương;

- Công bố Ban chủ nhiệm lâm thời của Câu lạc bộ hoặc tiến hành bầu Ban chủ nhiệm (bao gồm Chủ nhiệm và 01 - 02 Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ);

- Công bố danh sách hội viên;

- Thảo luận chương trình hoạt động, định kỳ sinh hoạt của Câu lạc bộ;

- Thảo luận, thông qua Điều lệ hoặc Quy chế tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ.

- Thảo luận về mức hội phí.

Tại buổi Lễ ra mắt, Câu lạc bộ có thể tổ chức một số hoạt động sinh hoạt pháp luật ban đầu với sự tham gia của các hội viên.

2. Tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ:

2.1. Về tổ chức của Câu lạc bộ:

Là mô hình sinh hoạt pháp luật tại đơn vị cơ sở, Câu lạc bộ pháp luật có cơ cấu tổ chức với quy mô nhỏ, bao gồm Ban chủ nhiệm và các hội viên.

Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ thường có từ 3 đến 5 người, bao gồm Chủ nhiệm, các Phó chủ nhiệm và các uỷ viên là các cá nhân tiêu biểu, có tâm huyết, nhiệt tình tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại đơn vị, địa phương, có trình độ biểu biết pháp luật nhất định, có khả năng lãnh đạo, quản lý hoạt động Câu lạc bộ.

Hội viên tham gia Câu lạc bộ có thể là cán bộ, công chức, quần chúng nhân dân, có thể là đại diện của các ngành, đoàn thể như hội phụ nữ, nông dân, thanh niên, cựu chiến binh, học sinh, sinh viên...và không giới hạn về số lượng. Để trở thành hội viên Câu lạc bộ, các cá nhân tự nguyện tham gia cần nộp đơn xin gia nhập Câu lạc bộ. Trong quá trình hoạt động, Câu lạc bộ cần khuyến khích các cá nhân có nhu cầu được giao lưu, tìm hiểu, học hỏi về pháp luật tham gia và trở thành hội viên Câu lạc bộ. Thực tế hoạt động của các Câu lạc bộ thời gian qua cho thấy số lượng hội viên các Câu lạc bộ đã gia tăng đáng kể sau một thời gian Câu lạc bộ đi vào hoạt động.

2.2. Về hoạt động của Câu lạc bộ:

Để Câu lạc bộ phát huy tính thiết thực và tính hiệu quả trên thực tế thì hoạt động của Câu lạc bộ là yếu tố quyết định. Một Câu lạc bộ có hoạt động tốt hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có hai yếu tố cơ bản: nội dung hoạt động và phương thức tổ chức hoạt động.

2.2.1. Về nội dung hoạt động:

Tuỳ theo mục đích, đối tượng tham gia Câu lạc bộ pháp luật, nội dung hoạt động của Câu lạc bộ cần phù hợp, sát thực với đối tượng và đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương. Như trên đã đề cập, chủ đề pháp luật là nội dung chủ yếu trong các kỳ sinh hoạt, học tập, tổ chức giao lưu của Câu lạc bộ. Tuy nhiên, ở mỗi thời điểm khác nhau, địa bàn, cơ quan, đơn vị khác nhau mà lựa chọn nội dung pháp luật cho phù hợp. Ngoài những nội dung pháp luật mà mọi đối tượng đều cần biết như dân sự, hình sự, đất đai...thì với các đối tượng cụ thể sẽ tập trung tuyên truyền các lĩnh vực pháp luật cụ thể. Ví dụ: đối tượng là phụ nữ thì tập trung tìm hiểu, tuyên truyền pháp luật về dân số, hôn nhân và gia đình, sức khoẻ sinh sản...; đối tượng là nông dân thì tập trung phổ biến về chính sách xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn; đối tượng là người lao động thì tuyên truyền về pháp luật lao động, công đoàn...Bên cạnh đó, các chính sách, quy định của cơ quan chính quyền địa phương cũng là nội dung cần được Câu lạc bộ quan tâm, khai thác và kịp thời tuyên truyền cho các hội viên nói riêng và nhân dân nói chung.

Các nội dung hoạt động của Câu lạc bộ không nên bó hẹp trong phạm vi đối tượng nhất định, không gian và thời gian nhất định mà cần được mở rộng, bổ sung kịp thời đảm bảo tính cập nhật, tránh nhàm chán, đặc biệt là cung cấp một lượng kiến thức pháp luật phong phú cho các hội viên. Ngoài ra, cũng cần phổ biến các kiến thức kinh tế, xã hội cần thiết khác phù hợp với từng đối tượng.

Xác định nội dung hoạt động của Câu lạc bộ phụ thuộc vào vai trò tham mưu của cơ quan tư pháp cùng cấp và cơ quan tư pháp cấp trên cũng như sự tích cực phối hợp của cơ quan, đơn vị chủ quản.

2.2.2. Về phương thức tổ chức hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật

Để thu hút số lượng hội viên tham gia Câu lạc bộ, giúp cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong Câu lạc bộ có hiệu quả thì phương thức tổ chức sinh hoạt của Câu lạc bộ cần đa dạng, phong phú và hấp dẫn. Câu lạc bộ thường tập trung tổ chức sinh hoạt theo các phương thức sau:

- Tổ chức các buổi nói chuyện, tọa đàm chuyên đề về nội dung pháp luật, giới thiệu văn bản pháp luật mới;

- Tổ chức hoạt động thi tìm hiểu pháp luật, hái hoa dân chủ, giải đáp pháp luật, thi sáng tác các tác phẩm văn hoá, văn nghệ có nội dung pháp luật;

- Xây dựng các tiểu phẩm văn hoá, văn nghệ (thơ, ca, hò, vè...) có nội dung pháp luật để biểu diễn;

- Cung cấp thông tin, tư liệu pháp luật (sách, báo, văn bản pháp luật) phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương;

- Tổ chức các buổi giao lưu pháp luật với các loại hình Câu lạc bộ khác, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể tại đơn vị, địa phương.

2.3. Về việc duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của Câu lạc bộ

Duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của Câu lạc bộ đã, đang là vấn đề được đặt ra đối với các Câu lạc bộ nói chung và Câu lạc bộ pháp luật nói riêng. Nhiều Câu lạc bộ được thành lập và chỉ sau một thời gian hoạt động đã tạm ngừng hoặc hoạt động cầm chừng do nội dung sinh hoạt nghèo nàn, không thu hút sự tham gia đông đảo của hội viên, không có địa điểm sinh hoạt cố định hoặc do thiếu kinh phí...Để khắc phục tình trạng này, nhằm tiếp tục duy trì, phát huy tác dụng, hiệu quả hoạt động, các Câu lạc bộ cần tiến hành đồng bộ một số biện pháp sau:

- Xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm: Việc xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm của Câu lạc bộ đảm bảo tính liên tục về tiến độ hoạt động cũng như những nội dung, phương thức tổ chức hoạt động của Câu lạc bộ;

- Cử cán bộ phụ trách, theo dõi hoạt động của Câu lạc bộ: Cần chọn người nhiệt tình, năng động, tâm huyết, có năng lực tổ chức, đặc biệt là người am hiểu pháp luật để đưa vào Ban chủ nhiệm hoặc làm tư vấn cho Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ.

- Xây dựng lực lượng cộng tác viên: Lực lượng này chủ yếu gồm các báo cáo viên và tuyên truyền viên pháp luật tình nguyện tại địa bàn tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ để phổ biến, tuyên truyền, và giải đáp thắc mắc về các nội dung, lĩnh vực liên quan đến pháp luật.

- Xây dựng tủ sách pháp luật cho Câu lạc bộ: Tủ sách pháp luật được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật của Câu lạc bộ, phù hợp với đối tượng của Câu lạc bộ (về khả năng nhận thức cũng như đặc điểm tâm lý...). Tủ sách nên được mở thường xuyên trong các buổi sinh hoạt để tạo điều kiện cho các hội viên và nhân dân được tiếp xúc, tìm hiểu. Nội dung tủ sách cần được cập nhật, phong phú về loại hình (sách tra cứu, báo, tờ gấp, sách bỏ túi...). Nên có sự trao đổi, luân chuyển với tủ sách pháp luật của cơ quan, đơn vị, trường học và xã, phường, thị trấn tại địa bàn. Để xây dựng tủ sách, cần huy động sự đóng góp của các cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, hoặc khuyến khích, động viên mỗi gia đình, mỗi thành viên Câu lạc bộ đóng góp 01 cuốn sách hoặc tạp chí...

- Thường xuyên đổi mới các phương thức sinh hoạt để thu hút các hội viên tham gia: Thực tiễn hoạt động của các Câu lạc bộ thời gian qua cho thấy, việc đổi mới phương thức sinh hoạt góp phần không nhỏ trong việc duy trì hoạt động và ngày càng thu hút đông đảo hội viên tham gia của các Câu lạc bộ. Để phù hợp với thực tiễn, các Câu lạc bộ có thể lựa chọn và vận dụng vào quá trình tổ chức sinh hoạt của mình các hình thức sau đây:

+ Tổ chức tuyên truyền miệng giới thiệu các nội dung pháp luật có liên quan thiết thực đến đời sống của hội viên và nhân dân tại địa phương;

+ Tổ chức biểu diễn tiểu phẩm, thi văn hoá, văn nghệ lồng ghép kiến thức pháp luật, thi hái hoa dân chủ, thi tìm hiểu pháp luật, sáng tác thơ, ca, hò về nội dung pháp luật;

+ Phối hợp với Ban Văn hoá - thông tin cơ sở tổ chức lồng ghép tiếp âm trên mạng lưới loa truyền thanh cơ sở của xã;

+ Kẻ vẽ các khẩu hiệu tuyên truyền pháp luật;

+ Phối hợp với Ban Tư pháp, Phòng Tư pháp tổ chức tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý cho chị em, vận động chị em tham gia các phong trào thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội;

+ Tham gia công tác hoà giải cơ sở; tổ chức tìm hiểu pháp luật thông qua tủ sách pháp luật ở cơ sở;

+ Lồng ghép tuyên truyền pháp luật với các mô hình sinh hoạt Câu lạc bộ phụ nữ khác như Câu lạc bộ gia đình không sinh con thứ ba, Câu lạc bộ tín dụng phụ nữ...;

+ Tổ chức Toạ đàm để trao đổi kiến thức pháp luật;

+ Trực tiếp đi động viên, gặp gỡ và tuyên truyền các đối tượng nghiện hút, trộm cắp, cờ bạc...tại địa phương;

+ Mời cán bộ, chuyên viên, báo cáo viên pháp luật của tỉnh, huyện về trực tiếp tuyên truyền.

- Bố trí địa điểm sinh hoạt của Câu lạc bộ ổn định: tuy nhiên địa điểm sinh hoạt Câu lạc bộ có thể được thay đổi để phù hợp, thích nghi với điều kiện của hội viên hoặc để thu hút thêm nhiều thành phần tham dự buổi sinh hoạt Câu lạc bộ (như trụ sở UBND xã, nhà văn hoá thôn, xã, sân đình, rạp chiếu bóng công cộng...);

- Tạo nguồn kinh phí hoạt động ổn định cho Câu lạc bộ. Kinh phí hoạt động được huy động từ các nguồn sau:

+ Sự hỗ trợ ban đầu của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và chính quyền địa phương nơi thành lập Câu lạc bộ;

+ Kinh phí từ các dự án, các chương trình quốc gia;

+ Kinh phí từ cơ quan chuyên môn có nhu cầu đưa nội dung pháp luật cụ thể vào tuyên truyền, phổ biến tại Câu lạc bộ;

+ Động viên sự đóng góp của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các nhà hảo tâm, của các cá nhân tại cơ quan, đơn vị và nhân dân địa phương;

+ Sự đóng góp của các hội viên Câu lạc bộ (hội phí);

- Nhân rộng mô hình điểm Câu lạc bộ pháp luật: Thực tế hoạt động của Câu lạc bộ cần được đánh giá để thấy được hiệu quả của mô hình này trong công tác tuyên truyền, PBGDPL. Trên cơ sở đó, thực hiện chỉ đạo thành lập, tổ chức hoạt động điểm Câu lạc bộ pháp luật và tiến hành nhân rộng mô hình tại cơ quan, đơn vị, địa phương theo quy mô rộng hơn dựa trên việc tổng kết, rút kinh nghiệm thực tiễn và có các biện pháp chỉ đạo cụ thể;

- Thực hiện chế độ khen thưởng, kiểm điểm phê bình kịp thời: Trong quá trình tổ chức hoạt động của Câu lạc bộ, Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ cũng như cơ quan chủ quản cấp trên cần theo dõi, phát hiện và có chế độ khen thưởng kịp thời đối với các cá nhân tham gia tích cực, có nhiều thành tích, sáng tạo trong tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ cũng như nghiêm túc kiểm điểm, phê bình các cá nhân vi phạm điều lệ, quy chế sinh hoạt của Câu lạc bộ.

- Thực hiện sơ kết, tổng kết hoạt động định kỳ của Câu lạc bộ: Việc sơ, tổng kết hoạt động của Câu lạc bộ giúp cho Ban chủ nhiệm, cơ quan cấp trên phụ trách trực tiếp có kế hoạch, định hướng hoạt động cho Câu lạc bộ trong những thời gian tiếp theo.

3. Đưa nội dung pháp luật vào hoạt động của các loại hình Câu lạc bộ khác

Hiện nay, lồng ghép nội dung pháp luật vào hoạt động của các Câu lạc bộ khác là một trong những biện pháp tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật có hiệu quả tích cực. Bên cạnh sự xuất hiện của Câu lạc bộ pháp luật thì ngày càng nhiều các Câu lạc bộ khác ra đời như: Câu lạc bộ tiền hôn nhân, Câu lạc bộ gia đình trẻ, Câu lạc bộ khuyến nông, Câu lạc bộ tuổi trẻ sáng tạo...Việc đưa nội dung pháp luật vào hoạt động của các Câu lạc bộ này có thuận lợi: là không phải thành lập Câu lạc bộ pháp luật mới mà vẫn thực hiện được việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật. Tuy nhiên, lượng thông tin pháp luật đưa vào lại rất hạn chế, chỉ có thể lựa chọn một số nội dung pháp luật phù hợp với tiêu chí hoạt động của mỗi loại Câu lạc bộ. Vì vậy, để việc đưa pháp luật vào các loại hình Câu lạc bộ khác có hiệu quả, cần tiến hành một số biện pháp sau:

3.1. Xây dựng cơ chế phối hợp cụ thể giữa cơ quan tư pháp, cơ quan chức năng với Câu lạc bộ khác:

Để triển khai hoạt động này, trước tiên ngành tư pháp, các cơ quan chức năng phải chỉ đạo, hướng dẫn Câu lạc bộ để hai bên thoả thuận, đi đến thống nhất xây dựng văn bản liên tịch (có thể là kế hoạch phối hợp hoạt động) tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức đưa nội dung pháp luật vào hoạt động của Câu lạc bộ ổn định, lâu dài và hiệu quả.

Văn bản liên tịch cần đề cập đến những nội dung sau:

- Phân công trách nhiệm của mỗi bên trong việc tổ chức lồng ghép nội dung pháp luật vào hoạt động của Câu lạc bộ;

- Xác định đầu mối phối hợp của mỗi bên đảm bảo mối quan hệ thường xuyên, trao đổi thông tin và đề xuất các biện pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phối hợp;

- Trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện văn bản liên tịch;

- Chế độ sơ kết, tổng kết, định kỳ kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm cho công tác chỉ đạo và duy trì quan hệ phối hợp.

3.2. Lựa chọn nội dung pháp luật:

Việc lựa chọn nội dung pháp luật phải phù hợp với đối tượng và mục đích, tiêu chí hoạt động của các loại hình Câu lạc bộ, đảm bảo tính cần thiết cũng như sự đáp ứng nhu cầu được tìm hiểu, nâng cao hiểu biết pháp luật của các thành viên tham gia các Câu lạc bộ này.

 

6.1.Một số vấn đề chung về PBGDPL thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý  

 

Trợ giúp pháp lý được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn và một số đối tượng có hoàn cảnh khó khăn khác theo quy định của pháp luật. Mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý là nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực hiện công bằng xã hội.

Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các tổ chức trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội, chính trị xã hội nghề nghiệp. Còn nếu hiểu theo nghĩa hẹp, chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý chỉ bao gồm các tổ chức trợ giúp pháp lý nhà nước, đó là các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các Chi nhánh của Trung tâm ở địa phương (hiện nay đã có 64 Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương).

Theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý thì người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm: Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên, Luật sư, Tư vấn viên pháp luật. Đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí là người thuộc hộ nghèo; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số thường trú ở các vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em không nơi nương tựa. Bên cạnh đó, trong khuôn khổ Dự án hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam thì một số đối tượng khác như người chưa thành niên, đồng bào dân tộc nói chung, phụ nữ, trẻ em là nạn nhân của bạo lực trong gia đình và tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em cũng được trợ giúp pháp lý miễn phí.

Hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và một số hình thức khác. Trợ giúp pháp lý được thực hiện đối với tất cả các vụ việc có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong hầu hết các lĩnh vực pháp luật, trừ các vụ việc có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Hoạt động trợ giúp pháp lý hoàn toàn miễn phí đối với người được trợ giúp pháp lý. Người yêu cầu trợ giúp pháp lý không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí hay thù lao nào dưới bất kỳ hình thức nào. Kinh phí hoạt động trợ giúp pháp lý do ngân sách Nhà nước cấp và nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

Đặc điểm của phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý 

Hoạt động trợ giúp pháp lý có quan hệ mật thiết với hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý ngoài nhiệm vụ thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số còn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng này (Điều 3 Luật trợ giúp pháp lý). Thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, bằng các hình thức trợ giúp pháp lý như: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, v.v... người thực hiện trợ giúp pháp lý phổ biến, giáo dục pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý, giúp họ nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật để xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật và biết vận dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân và gia đình khi bị xâm phạm. Khác với các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn thường được áp dụng như tuyên truyền miệng về pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng, các loại hình báo chí... mang tính chất đại trà, hướng vào số đông, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý có những đặc điểm sau đây:

- Chủ thể thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật là các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người trực tiếp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý là các trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên, luật sư, tư vấn viên pháp luật.

- Đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật là một con người cụ thể, phần lớn là những người nghèo ở vào hoàn cảnh khó khăn, trình độ dân trí thấp, khả năng giao tiếp hạn chế, nắm bắt vấn đề chậm.

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý tập trung vào những lĩnh vực pháp luật có liên quan trực tiếp đến những vướng mắc pháp luật hoặc những vụ việc cụ thể của người yêu cầu trợ giúp pháp lý nên có mức độ ảnh hưởng sâu sắc hơn tới bản thân người được trợ giúp pháp lý, đồng thời có sức lan tỏa tới những người xung quanh.

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý gắn liền với việc thực hiện tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức dịch vụ pháp lý khác, hướng dẫn người được trợ giúp pháp lý thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, đưa ra các giải pháp, phương hướng giải quyết những vướng mắc pháp luật để giúp người được trợ giúp pháp lý ứng xử phù hợp với pháp luật, biết sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm.

 

 

6.2.Các hình thức PBGDPL thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý   

 

1. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tư vấn pháp luật:

Tư vấn pháp luật là hình thức trợ giúp pháp lý phổ biến, được áp dụng thường xuyên ở tất cả các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Người thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện tư vấn pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý bằng việc hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.

Tư vấn pháp luật có thể được thực hiện thông qua ngôn ngữ giao tiếp hỏi - đáp trực tiếp (tư vấn miệng) hay thông qua giải đáp bằng văn bản. Cho dù được thực hiện dưới hình thức nào, hoạt động tư vấn pháp luật cũng bao gồm các bước sau: tiếp nhận yêu cầu tư vấn - yêu cầu người đề nghị tư vấn cung cấp các văn bản, tài liệu liên quan đến vụ việc cần tư vấn - nghiên cứu tài liệu, tra cứu các văn bản pháp luật liên quan - tư vấn cho người yêu cầu. Trong các bước nêu trên, tư vấn cho người yêu cầu chính là khâu cuối cùng của quá trình tư vấn. Đây cũng chính là giai đoạn người thực hiện trợ giúp pháp lý đồng thời tiến hành việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho người yêu cầu trợ giúp pháp lý bằng việc đưa ra lời giải đáp, lời khuyên, giải pháp, phương án... để trả lời các vấn đề vướng mắc của người đề nghị tư vấn, nêu lên các điều kiện, hoàn cảnh cũng như hậu quả của việc thực hiện các hành vi khi tham gia vào các quan hệ xã hội mà luật pháp cho phép hay ngăn cấm, giúp người yêu cầu tư vấn lựa chọn cách xử sự phù hợp với pháp luật và có lợi nhất cho mình. Dĩ nhiên, không phải đến giai đoạn cuối cùng này của quá trình tư vấn, việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý mới được thực hiện mà ngay từ khi bắt đầu tiếp xúc, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã có thể cung cấp thông tin pháp luật, giải đáp pháp luật cho người yêu cầu trợ giúp pháp lý, giúp họ hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật có liên quan đến vụ việc (vướng mắc pháp luật) của họ. Thông qua hoạt động tư vấn, phổ biến, giáo dục pháp luật, người được trợ giúp pháp lý nắm vững các quy định của pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật trên cơ sở đó tự giác chấp hành pháp luật và biết vận dụng pháp luật để bảo vệ cho các quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân và gia đình, hình thành lòng tin vào pháp luật và sự công bằng trong xã hội.

Trong quá trình thực hiện tư vấn pháp luật thông qua các hoạt động giao tiếp với đối tượng, nghe, tìm hiểu những thông tin trung thực về vụ việc (vướng mắc pháp luật) hiểu rõ bản chất yêu cầu trợ giúp pháp lý, trên cơ sở đó người thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật có liên quan đến vụ việc được trợ giúp pháp lý, góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức pháp luật cho người được tư vấn. Khi tư vấn, người thực hiện trợ giúp pháp lý có thể cung cấp cho người được trợ giúp pháp lý các văn bản pháp luật đã vận dụng trong quá trình tư vấn cùng với giải pháp đưa ra để họ đối chiếu, tham khảo thêm.

2. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua trợ giúp pháp lý lưu động:

Hiện nay, hệ thống tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm 64 Trung tâm trợ giúp pháp lý ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Nhiều Trung tâm đã thành lập được Chi nhánh, Tổ, Điểm, Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý ở cấp huyện và cấp xã. Tuy nhiên, vì nhiều lý do chủ quan, khách quan khác nhau mà không phải mọi đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý khi có vướng mắc pháp luật đều có điều kiện đến trụ sở của tổ chức trợ giúp pháp lý để được giúp đỡ. Chính vì vậy, các Trung tâm trợ giúp pháp lý đã chủ động tìm đến người dân bằng cách tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu động về tận làng, xã, thôn, bản, cụm dân cư để giải quyết ngay tại chỗ những vướng mắc pháp luật của người dân.

Trợ giúp pháp lý lưu động được được đánh giá là phương thức trợ giúp pháp lý có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân ngay tại cơ sở. Ưu điểm nổi bật của trợ giúp pháp lý lưu động là thu hút được nhiều đối tượng tham gia cùng một lúc tại một địa điểm nên bên cạnh việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho từng đối tượng thông qua các vụ việc cụ thể, các Trung tâm đã thực hiện việc phổ biến, giáo dục pháp luật qua hình thức nói chuyện pháp luật, giới thiệu văn bản pháp luật mới cho nhiều người tham dự, phát tờ gấp pháp luật, sách hỏi – đáp về các lĩnh vực pháp luật dân sự, hình sự, hôn nhân – gia đình, khiếu nại – tố cáo, đất đai – nhà ở, chế độ chính sách... để qua đó nâng cao hiểu biết pháp luật cho người dân. Đặc biệt, tại những địa bàn có “điểm nóng” về khiếu kiện thì việc tư vấn, hướng dẫn, giải đáp pháp luật tại chỗ như vậy sẽ giúp “xoa dịu” tình hình, giải tỏa vướng mắc pháp luật của người dân, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự tại địa phương.

Để phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động có hiệu quả, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Phối hợp với chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương (nông dân, phụ nữ, cựu chiến binh, thanh niên) tiến hành khảo sát để nắm bắt nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân ở cơ sở  và xây dựng kế hoạch tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động tại cơ sở;

- Thành lập đoàn trợ giúp pháp lý lưu động trong đó có cán bộ chuyên sâu về một số lĩnh vực mà người dân có nhiều vướng mắc (đất đai, thừa kế, chế độ chính sách đối với người có công);

- Chuẩn bị đầy đủ tài liệu phục vụ cho việc trợ giúp pháp lý và phổ biến, giáo dục pháp luật (văn bản pháp luật để tra cứu trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý, tờ gấp pháp luật, sách hỏi – đáp pháp luật để phát cho người tham dự);

- Trước khi thực hiện trợ giúp pháp lý lưu động ít nhất 01 tuần cần gửi thông báo xuống UBND xã để thông báo cho người dân đến tham dự;

- Tại buổi trợ giúp pháp lý lưu động, trước khi thực hiện trợ giúp pháp lý đối với từng trường hợp cụ thể, cần dành thời lượng thích hợp (30 – 45 phút) để phổ biến về các quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý, lĩnh vực pháp luật có liên quan đến đời sống hàng ngày của người dân. Cùng với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho từng trường hợp cụ thể, tùy thuộc vào thành phần tham dự và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người tham dự hoặc những vướng mắc pháp luật nổi cộm ở cơ sở mà lựa chọn chủ đề phù hợp. Ví dụ: nếu thành phần tham dự chủ yếu là thanh niên, phụ nữ thì phổ biến về Luật hôn nhân và gia đình; nếu địa phương đang nổi cộm về vấn đề thu hồi đất, giải phóng mặt bằng thì phổ biến về Luật đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan đến việc bồi thường khi thu hồi đất...

- Đối với những vướng mắc pháp luật mang tính phổ biến, điển hình (có nhiều người cùng hỏi) thì giải đáp chung để mọi người cùng nghe.

3. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý:

Bên cạnh việc tư vấn pháp luật, người thực hiện trợ giúp pháp lý (trợ giúp viên pháp lý, luật sư) còn tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự hoặc để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính. Tham gia tố tụng bao gồm rất nhiều thao tác khác nhau như: gặp gỡ, tiếp xúc với người được trợ giúp pháp lý và gia đình của họ, nghiên cứu hồ sơ tại Tòa án, thu thập chứng cứ, tham gia các buổi hỏi cung, lấy lời khai tại Cơ quan điều tra, Việt kiểm sát (đối với các vụ việc hình sự), tham gia các buổi lấy lời khai, hòa giải tại Tòa án, tham dự phiên tòa...

Trong quá trình tham gia tố tụng, bên cạnh việc sử dụng các biện pháp mà pháp luật tố tụng quy định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý đồng thời thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý, người đại diện hợp pháp của họ, những người có liên quan và những người tham dự phiên tòa bằng việc hướng dẫn, giải thích cho họ về các quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án... Việc nắm vững các quy định pháp luật nêu trên sẽ giúp cho bị can, bị cáo và các đương sự khác thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tin tưởng vào sự phán quyết của Tòa án.

Trong quá trình tham gia tố tụng, người thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ việc thông qua các hoạt động:

- Gặp gỡ người được trợ giúp pháp lý, gia đình họ và các cơ quan, tổ chức liên quan để tìm hiểu về đặc điểm nhân thân của người được trợ giúp pháp lý, các mối quan hệ của họ với những người xung quanh, các tình tiết liên quan đến vụ việc chưa được thể hiện trong hồ sơ... phục vụ cho việc chuẩn bị luận cứ bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý;

- Truyền đạt đầy đủ và giải thích cặn kẽ các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục tố tụng; các quyền và nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý với tư cách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc đương sự trong vụ án hình sự, dân sự;

- Hướng dẫn, giúp đỡ người được trợ giúp pháp lý làm các thủ tục cần thiết để họ tham gia tố tụng (viết giúp đơn từ, giúp thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan để cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng...);

- Hướng dẫn người được trợ giúp pháp lý về cách thức làm việc với các cơ quan và người tiến hành tố tụng (tham gia các buổi hỏi cung, hòa giải; cách trình bày và trả lời câu hỏi của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử, Luật sư tại phiên tòa...)

- Giữ mối liên hệ với người được trợ giúp pháp lý sau khi vụ việc kết thúc để tiếp tục hỗ trợ họ khi cần thiết.

4. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc đại diện ngoài tố tụng:

Việc đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý được thực hiện trong trường hợp người được trợ giúp pháp lý không thể tự bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của mình (ví dụ: không biết chữ; không biết tiếng phổ thông; bị hạn chế về thể chất hoặc tâm thần; không có đủ khả năng liên hệ hoặc làm việc với các cơ quan chức năng; bị bệnh nặng đang trong thời gian điều trị; họ đã làm hết khả năng nhưng vụ việc không được giải quyết. Trợ giúp viên pháp lý và các cộng tác viên là luật sư sẽ đại diện cho các đối tượng này để liên hệ, làm việc với các cơ quan, tổ chức có liên quan, nhằm giúp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Trong quá trình tiếp xúc, trao đổi với người được trợ giúp pháp lý để thực hiện việc đại diện, người thực hiện trợ giúp pháp lý đồng thời thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý bằng việc hướng dẫn, giải thích cho họ về các quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ trong vụ việc liên quan, các trình tự, thủ tục cần thiết để làm việc với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết vụ việc... Chẳng hạn, khi làm đại điện cho đối tượng trợ giúp pháp lý để khiếu nại đối với một quyết định thu hồi đất của UBND huyện, cần giải thích cho họ hiểu về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, các động tác cần phải làm trong quá trình khiếu nại, thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại,... để họ tích cực phối hợp với người thực hiện trợ giúp pháp lý.

Tương tự như việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý trong quá trình tham gia tố tụng, khi làm đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý, người đại diện thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động:

- Truyền đạt đầy đủ và giải thích cặn kẽ các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc của các cơ quan chức năng, các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ việc cần đại diện;

- Giúp người được trợ giúp pháp lý làm các thủ tục cần thiết để liên hệ, làm việc với các cơ quan chức năng (viết giúp đơn từ, giúp thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan...);

- Giữ mối liên hệ với người được trợ giúp pháp lý sau khi vụ việc kết thúc để tiếp tục hỗ trợ họ khi cần thiết.

5. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý:

Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý là một hình thức hoạt động trợ giúp pháp lý cộng đồng, được thành lập ở cấp xã. Thành viên của Câu lạc bộ bao gồm đại diện của chính quyền, tư pháp xã, các tổ chức đoàn thể cáp xã, thôn và các hòa giải viên. Mục đích sinh hoạt Câu lạc bộ là để tạo điều kiện cho những người thuộc diện được trợ giúp pháp lý ở địa phương có cơ hội gặp gỡ, trao đổi với nhau về các tình huống pháp luật xảy ra trên thực tế tại địa phương trên cơ sở đối chiếu, vận dụng các quy định của pháp luật để tìm ra cách thức giải quyết đối với từng vụ việc cụ thể. Thông qua đó, người dân có thể tự hòa giải để giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp dân sự tại cơ sở, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật trong cộng đồng và giúp người dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình. Ngoài việc tư vấn pháp luật đối với vụ việc đơn giản, hòa giải, Câu lạc bộ còn có trách nhiệm đề xuất, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình hoạt động, giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của công dân.

Câu lạc bộ thường sinh hoạt định kỳ mỗi tháng một lần dưới sự hướng dẫn của Trung tâm trợ giúp pháp lý. Chủ đề sinh hoạt của Câu lạc bộ là đánh giá những việc đã làm, xây dựng phương hướng công tác, trao đổi kinh nghiệm, tư vấn, hòa giải các tranh chấp, vướng mắc tại địa phương, các vướng mắc của chính hội viên, tổ chức các lớp học cập nhật các văn bản pháp luật mới, nâng cao hiểu biết và ý thức pháp luật cho cộng đồng.

Nội dung sinh hoạt của Câu lạc bộ thường tập trung vào những vấn đề như: Nghe những thông tin mới về pháp luật, thời sự, thảo luận về các tình huống pháp lý xảy ra thực tế tại cơ sở; khai thác tủ sách pháp luật; tìm hiểu các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân trong các chế định pháp lý; tìm hiểu về quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan hành chính, của cán bộ công chức, viên chức trong một số lĩnh vực hoạt động; tìm hiểu về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước, quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở; thảo luận, tìm hiểu về các chính sách ưu đãi, miễn giảm nghĩa vụ đối với người nghèo, người có công, người già cô đơn, người dân tộc thiểu số; tìm hiểu các luật tục của địa phương; trao đổi kinh nghiệm, kỹ năng thực hiện tư vấn pháp luật, hòa giải những tranh chấp ở địa phương...

Với cách thức tổ chức và nội dung sinh hoạt như trên, Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý là một hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả và có chiều sâu. Các hội viên tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ không chỉ tiếp nhận kiến thức pháp luật một chiều mà còn có cơ hội trao đổi, thảo luận, vận dụng chính các quy định pháp luật đã được tìm hiểu để giải quyết các vướng mắc thực tế xảy ra trên địa bàn. Việc sinh hoạt theo định kỳ tạo ra “sân chơi” thường xuyên, ổn định cho người dân tại địa phương trong việc cập nhật kiến thức pháp luật mới, giúp hình thành thói quen “sống và làm việc theo pháp luật” cũng như trau dồi kỹ năng vận dụng pháp luật để tự giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong đời sống hàng ngày tại cộng đồng.

Để việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua mô hình Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý được tiếp tục triển khai hiệu quả cần tập trung vào một số vấn đề sau:

- Cần có văn bản hướng dẫn thống nhất việc thành lập Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, cụ thể nên quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền ra quyết định thành lập và ban hành Điều lệ tổ chức, hoạt động của Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý; bố trí địa điểm sinh hoạt và các phương tiện thiết yếu cho Câu lạc bộ;

- Trung tâm trợ giúp pháp lý có trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ sinh hoạt Câu lạc bộ, thường xuyên tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng tư vấn, hòa giải cho thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ, cung cấp tài liệu pháp luật cho Câu lạc bộ.

- Tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý định kỳ hàng tháng với những nội dung thiết thực; kết hợp giữa sinh hoạt đánh giá công tác với sinh hoạt chuyên đề pháp luật (nói chuyện, trao đổi theo chủ đề về các vấn đề pháp luật có liên quan trực tiếp đến các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại cơ sở mà người dân thường có nhiều vướng mắc và được nhiều người quan tâm) với việc giải quyết các tình huống cụ thể, nổi cộm tại địa phương.

- Kết hợp hoạt động của Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý với Câu lạc bộ phòng, chống tội phạm, Câu lạc bộ pháp luật...

6. Tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân nói chung và người nghèo, đối tượng chính sách nói riêng:

Thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý đối với các vụ việc cụ thể, các tổ chức trợ giúp pháp lý đã thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật, hướng dẫn đối tượng xử sự phù hợp với pháp luật trong các quan hệ pháp luật phát sinh. Để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật cho nhân dân, Cục Trợ giúp pháp lý và các Trung tâm trợ giúp pháp lý đã in ấn trên 60 loại tờ gấp pháp luật với hàng triệu bản và hàng chục cẩm nang pháp luật về các lĩnh vực: hình sự, tố tụng hình sự, khiếu nại, tố cáo; xử phạt vi phạm hành chính; tố tụng hành chính; hôn nhân và gia đình; hộ tịch; công chứng; giám định; đất đai – nhà ở; hợp đồng dân sự; thừa kế; chính sách đối với người có công... để phát miễn phí cho đối tượng trợ giúp pháp lý. Một số Trung tâm trợ giúp pháp lý thuộc các tỉnh miền núi có nhiều đồng bào dân tộc (Lâm Đồng, Gia Lai, Đăk Lăk, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu...) đã tổ chức in ấn, phát hành tờ gấp pháp luật, băng cát sét bằng tiếng dân tộc hoặc nhân bản tờ gấp của Cục để phát rộng rãi cho đồng bào dân tộc. Nhiều địa phương đã đưa chuyên trang, chuyên mục trợ giúp pháp lý lên báo, đài truyền hình địa phương, loa phóng thanh tại thôn, xã, cụm dân cư với thời lượng phát sóng cao vào các giờ cao điểm. Để phổ cập pháp luật cho nhân dân và tạo diễn đàn trao đổi kinh nghiệm, kỹ năng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, được phép của Bộ Văn hóa – Thông tin, Cục Trợ giúp pháp lý đã phát hành hàng ngàn cuốn cẩm nang pháp luật và Đặc san trợ giúp pháp lý (2 tháng/số với 15.000 bản/số) để phát cho cán bộ chủ chốt từ Trung ương đến cấp xã. Đồng thời, các tổ chức trợ giúp pháp lý cũng đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp trong việc phổ biến, giới thiệu về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý cho nhân dân biết và dễ tiếp cận.

Nhìn chung, thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý bằng các hình thức tư vấn pháp luật, hòa giải, đại diện bào chữa, kiến nghị bằng các phương thức và hình thức khác nhau, các tổ chức trợ giúp pháp lý đã thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng, giúp đối tượng nâng cao trình độ hiểu biến và ý thức pháp luật để họ ứng xử phù hợp với pháp luật, thực hiện pháp luật, giải tỏa vướng mắc pháp luật, giảm khiếu kiện vượt cấp, tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời giúp các cơ quan nhà nước, cơ quan tư pháp giải quyết vụ việc một cách chính xác, khách quan, công bằng và kịp thời cho đối tượng, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

7.1.Giới thiệu chung về tư vấn pháp luật

1. Tư vấn pháp luật là gì ?

Hiện nay còn có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về tư vấn pháp luật. Tuy nhiên, từ góc độ lý luận và thực tiễn, tư vấn pháp luật được hiểu là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài xử sự đúng pháp luật; cung cấp dịch vụ pháp lý giúp cho các cá nhân, tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Hoạt động tư vấn pháp luật không chỉ bao gồm việc chuyển tải nội dung của một điều luật, một văn bản pháp luật, hoặc cung cấp thông tin về những quy định pháp luật có liên quan mà còn là việc sử dụng kiến thức pháp luật và kinh nghiệm của các chuyên gia pháp luật. Như vậy, người thực hiện tư vấn phải sử dụng lao động trí óc của mình để đưa ra một lời khuyên, giúp khách hàng có một hướng giải quyết đúng đắn.

Đây là cách hiểu phổ biến nhất về “tư vấn pháp luật” và thuật ngữ này thường được sử dụng với ý nghĩa đó trong các văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay.   

2. Tư vấn pháp luật do ai thực hiện ?

Hoạt động tư vấn pháp luật hiện nay được thực hiện theo hai mô hình sau đây:

- Thứ nhất là, tư vấn pháp luật của luật sư theo quy định của Luật luật sư năm 2006 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007);

- Thứ hai là, tư vấn pháp luật do các tổ chức đoàn thể xã hội thực hiện  được điều chỉnh bởi Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11-6-2003 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật. Hoạt động tư vấn pháp luật này mang tính chất xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận, khác với hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư (có tính chất hoạt động nghề nghiệp độc lập, có thu phí dịch vụ) và hoạt động trợ giúp pháp lý của Nhà nước (giúp đỡ pháp lý miễn phí, mọi chi phí liên quan do nhà nước chi trả). Để thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật cho thành viên của tổ chức mình và các đối tượng khác theo luật định, tổ chức chính trị -xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật và duy trì hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải về tài chính. 

 Tư vấn pháp luật là hoạt động chuyên môn đặc thù, vì vậy, đòi hỏi người thực hiện tư vấn pháp luật phải hội đủ các tiêu chuẩn nhất định. Luật sư, tư vấn viên pháp luật và cộng tác viên pháp luật (gọi chung là người tư vấn) là những người có kiến thức pháp luật (có trình độ cử nhân luật trở lên), kỹ năng và kinh nghiệm tư vấn, đồng thời phải tuân thủ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp (đối với luật sư), có sự tận tâm, nhiệt tình và chịu trách nhiệm cá nhân đối với hoạt động tư vấn pháp luật của mình (đối với tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên pháp luật).   

3. Những đối tượng được tư vấn pháp luật 

Những đối tượng được tư vấn pháp luật thường rất đa dạng, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội, bao gồm:

- Khách hàng của luật sư: từ cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đến cơ quan nhà nước đều có thể được luật sư cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật. Điểm khác biệt cơ bản giữa khách hàng của luật sư với các đối tượng được tư vấn khác là thông thường khách hàng phải trả phí dịch vụ pháp lý, trừ trường hợp được luật sư tư vấn miễn phí.

- Đối tượng thụ hưởng tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị -xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp chiếm phần đông dân cư trong xã hội, chủ yếu là được tư vấn pháp luật miễn phí (chiếm gần 70% khối lượng công việc tư vấn pháp luật của các tổ chức này), trong đó có: 

Thành viên của các tổ chức chính trị –xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (ví dụ: công đoàn viên, người lao động, nông dân, phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh …);

Người nghèo, đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật;

Các doanh nghiệp, tổ chức và đối tượng khác: ngoài đối tượng được hưởng chính sách xã hội nói trên, các Trung tâm tư vấn pháp luật của  các tổ chức đoàn thể còn thực hiện tư vấn pháp luật có thu phí ở mức thấp đối với doanh nghiệp và các cá nhân khác khi có yêu cầu.

4. Vai trò của tư vấn pháp luật và ý nghĩa của việc lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật vào hoạt động tư vấn pháp luật

Tư vấn pháp luật cung cấp cho cá nhân, tổ chức những hiểu biết pháp luật ở mức cơ bản, phổ thông về một vấn đề nhất định, giúp họ hiểu rõ vị thế, quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong một quan hệ pháp luật cụ thể nảy sinh trong đời sống xã hội. Kết quả của hoạt động tư vấn pháp luật là lời khuyên, ý kiến pháp lý bằng miệng hoặc có thể bằng văn bản. Hiểu theo nghĩa rộng, đó là những giải pháp cụ thể, hữu ích giúp đối tượng được tư vấn bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ. ý nghĩa xã hội của tư vấn pháp luật khá sâu rộng ở chỗ, giúp định hướng hành vi ứng xử của các cá nhân, tổ chức theo khuôn khổ pháp luật và quy tắc đạo đức. Đồng thời, nó giúp hòa giải hoặc giải quyết theo một trình tự phù hợp các mâu thuẫn, xung đột liên quan đến quyền, lợi ích, góp phần giảm thiểu các tranh chấp, giảm bớt tình trạng khiếu kiện tràn lan, kéo dài do người dân hiểu pháp luật không đúng hoặc không đầy đủ. Hoạt động tư vấn pháp luật còn góp phần giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước, của tổ chức và công dân; phát hiện những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật và kiến nghị sửa đổi, bổ sung, kịp thời hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn.

Qua khảo sát thực tế cho thấy, khi có nhu cầu về giải đáp pháp luật, tháo gỡ vướng mắc pháp lý, người dân đã tin cậy và thường xuyên tìm đến các tổ chức giúp đỡ pháp lý sau đây: Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước, Trung tâm tư vấn pháp luật, Văn phòng luật sư. Bên cạnh các Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước với đối tượng phục vụ còn hẹp, người dân thường yên tâm hơn khi tìm đến Trung tâm tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp. Bởi lẽ, đây là cơ sở tư vấn pháp luật trực thuộc các tổ chức đoàn thể của họ, là nơi họ có thể trình bày tường tận hoàn cảnh, tâm tư, nguyện vọng của mình, tin tưởng vào chính sách của tổ chức cũng như mong được đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ dù là thành viên hoặc không phải là thành viên của tổ chức.

Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động tư vấn pháp luật, mối liên hệ giữa tư vấn pháp luật với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được hình thành hết sức tự nhiên và gắn bó với nhau khá chặt chẽ. Tư vấn pháp luật là quá trình phổ biến pháp luật.Thông qua quá trình thực hiện các công việc cụ thể của hoạt động tư vấn pháp luật (cung cấp thông tin, giải đáp pháp luật cho cá nhân, tổ chức …), thì các mục đích và nội dung chính của phổ biến, giáo dục pháp luật đồng thời cũng được triển khai, lồng ghép, cụ thể là:

- Cung cấp thông tin, văn bản pháp luật, tài liệu pháp lý cho cá nhân, tổ chức: Trước khi đưa ra một lời khuyên hay các giải pháp để khách hàng lựa chọn, người tư vấn thường phải đưa ra những thông tin pháp lý cơ bản, văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh về vấn đề đó hoặc nội dung chính sách, pháp luật khác có liên quan nhiều nhất. Nhờ vậy, đối tượng đến yêu cầu tư vấn không chỉ hiểu được cụ thể chính sách, quy định pháp luật về chính vấn đề mình cần mà còn có thể tham khảo thông tin liên quan một cách tổng thể, đôi khi rộng hơn hoặc sâu hơn về vấn đề mình cần tìm hiểu. 

- Giải đáp pháp luật cho cá nhân, tổ chức giúp cho đối tượng được tư vấn hiểu về quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong các quan hệ pháp luật trên cơ sở quy định của pháp luật: Việc tư vấn thường đòi hỏi phải đặt ra các câu hỏi và trả lời từng câu hỏi để làm sáng tỏ vấn đề cần giải quyết. Vì vậy, người tư vấn cũng phải đưa ra lời giải thích, giải đáp cặn kẽ, bám sát vào tình huống thực tế để phân tích giúp cho khách hàng hiểu rõ hơn vấn đề của mình trên cơ sở các quy định của pháp luật.

- Hướng dẫn cho các đối tượng ứng xử đúng pháp luật trong từng hoàn cảnh cụ thể để thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình: Đây là hoạt động mang lại kết quả trực tiếp, dễ nhận thấy và đánh giá sau một quá trình tư vấn, tuyên truyền pháp luật. Điều quan trọng nhất là giúp đối tượng được tư vấn pháp luật hiểu rõ hoàn cảnh, vị thế của mình, từ đó lựa chọn cách xử sự phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.

- Giúp cho họ nâng cao hiểu biết pháp luật thông qua nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử, hình thành và phát huy ý thức tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh pháp luật: Hệ quả của quá trình tư vấn, truyên truyền pháp luật là sự chuyển biến trong nhận thức, hiểu biết của từng cá nhân, hoặc một nhóm người, từ đó hình thành thái độ xử sự tích cực, tôn trọng và tuân thủ pháp luật trong các quan hệ đời sống xã hội hoặc có sự phản kháng, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật. Một cá nhân hoặc tổ chức khi đã được tư vấn, phổ biến pháp luật chắc chắn sẽ có hiểu biết ở mức độ nhất định và hành vi ứng xử khác với trước đó.

Trên thực tế đã có sự lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật trong hoạt động tư vấn pháp luật nhưng chưa được thực hiện thường xuyên, còn mang tính ngẫu nhiên, tự phát mà chưa có mục đích, kế hoạch cụ thể. Mặt khác, chúng ta cũng chưa có tiêu chí cụ thể để đánh giá chính xác hiệu quả của việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua các hình thức tư vấn pháp luật. Sự chuyển biến trong nhận thức, hiểu biết pháp luật đòi hỏi phải có một quá trình tác động lâu dài, với nhiều cách  thức khác nhau, phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Do vậy, sự kết hợp giữa phổ biến, giáo dục pháp luật trong  công tác tư vấn pháp luật trên thực tế còn có những hạn chế sau đây:

- Nhận thức, quan điểm chưa đúng, chưa đầy đủ về việc lồng ghép hoạt động: đó là quan niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật và tư vấn pháp luật là 2 hoạt động tách rời nhau hoàn toàn, việc ai nấy làm nên chưa có sự quan tâm phối hợp, hoặc nếu có cũng mang tính hình thức, hời hợt.

- Cách triển khai thực hiện cả hai hoạt động nói trên còn trùng lặp về một số nội dung hoạt động, địa bàn, đối tượng được tư vấn và tuyên truyền pháp luật, dễ dẫn đến tình trạng lãng phí về tài chính, nhân lực và vật lực một cách không cần thiết.

- Do chưa được bồi dưỡng, trang bị về kỹ năng tuyên truyền, thiếu thông tin và tài liệu nghiệp vụ nên phần lớn cán bộ tư vấn pháp luật (kể cả luật sư) còn e ngại, chưa nhiệt tình tham gia vào công tác tư vấn pháp luật có lồng ghép nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật.

 

 

7.2.Phương thức và kỹ năng thực hiện lồng ghép PBGDPL vào hoạt động tư vấn pháp luật   

 

1. Phương thức lồng ghép

Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật vào hoạt động tư vấn pháp luật sẽ góp phần tăng thêm hiệu quả, ý nghĩa xã hội của hoạt động tư vấn pháp luật. Bởi vì, khi đó tư vấn pháp luật không chỉ phục vụ một người mà là phục vụ nhiều người cùng lúc. Kết quả là một lời khuyên đúng đắn không chỉ được áp dụng trong một trường hợp mà được nhân lên nhiều trường hợp, được sử dụng nhiều lần thay vì một lần. Hơn nữa, đây cũng là một cách thức hữu hiệu để thúc đẩy công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phát triển, đa dạng hóa các kênh tuyên truyền pháp luật.

Song cần lồng ghép như thế nào để phù hợp và hiệu quả ?

Căn cứ vào các mô hình tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật trên thực tế, có thể lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tư vấn pháp luật theo  các phương thức sau đây:

- Thứ nhất là, lồng ghép thông qua quá trình xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai kế hoạch và cơ chế phối hợp, hỗ trợ thực hiện: 

 + Cần lập kế hoạch hàng năm hoặc dài hạn tùy theo điều kiện của từng địa phương và hệ thống tổ chức, trong đó cụ thể hóa về hoạt động, tổ chức thực hiện, kinh phí và các điều kiện cần thiết khác. Khi xác định rõ ràng mục đích và có kế hoạch thực hiện việc lồng ghép cụ thể thì quá trình tư vấn pháp luật kết hợp tuyên truyền pháp luật mới có tính định hướng, đem lại kết quả như mong muốn. ở đây, cần nhấn mạnh vai trò của các Sở Tư pháp – đầu mối trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở địa phương – sẽ là cầu nối, liên hệ chặt chẽ với các tổ chức chính trị-xã hội cùng cấp để xây dựng và triển khai kế hoạch phối hợp và Sở Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ khi cần thiết. 

+ Có sự phối hợp, hỗ trợ giữa các cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ phổ biến giáo dục pháp luật đối với các tổ chức thực hiện tư vấn pháp luật trên cơ sở kế hoạch chung được hoạch định hoặc phối hợp theo từng hoạt động (hỗ trợ nhân lực, kinh phí thực hiện, tài liệu …).

Ví dụ: Trung tâm tư vấn pháp luật của Hội Phụ nữ tỉnh A (một tỉnh biên giới) có kế hoạch tổ chức một cuộc tư vấn lưu động để giải đáp pháp luật, phổ biến về những quy định pháp luật liên quan đến quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trong trường hợp phụ nữ chung sống với người nước ngoài mà không đăng ký kết hôn. Trung tâm đã mời báo cáo viên pháp luật của địa phương, cán bộ của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp tỉnh A tham gia cuộc tư vấn lưu động.

- Thứ hai là, lồng ghép thông qua các hoạt động tư vấn pháp luật trực tiếp của các Trung tâm tư vấn pháp luật, của Đoàn luật sư và luật sư, tổ tư vấn pháp luật, cán bộ đoàn thể: tăng cường và khuyến khích các cuộc tư vấn pháp luật lưu động kết hợp tuyên truyền pháp luật tại trụ sở của tổ chức, doanh nghiệp, tại gia đình, trường học v.v…Hiệu quả của hoạt động tư vấn pháp luật này được thể hiện rất rõ. Ví dụ: Hàng năm, chỉ riêng Hội Luật gia thành phố Hà Nội đã thực hiện tư vấn từ 1500 đến 2000 vụ việc, tư vấn qua điện thoại 1088 tính trung bình khoảng 3000 việc mỗi năm về tất cả các lĩnh vực pháp luật. Như vậy, khả năng lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tư vấn pháp luật có thể thực hiện đối với trên 40 Trung tâm tư vấn pháp luật và hàng chục chi nhánh của Trung tâm tại các tỉnh, thành phố, hơn 1000 văn phòng luật sư trong cả nước. Ngoài ra, rất nhiều hình thức hoạt động khác có thể lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật như: Văn phòng tư vấn pháp luật, tổ tư vấn pháp luật, các trung tâm hỗ trợ phụ nữ, nông dân, các câu lạc bộ pháp luật …    

- Thứ ba là, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ luật sư, cán bộ tư vấn pháp luật: đây là điểm còn thiếu và yếu cần được quan tâm bồi dưỡng, để đội ngũ nói trên tham gia tích cực, tự nguyện và có trách nhiệm đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

- Thứ tư là, biên soạn và phát hành các ấn phẩm tuyên truyền mang tính phổ thông, kết hợp hỏi đáp về những vấn đề pháp luật cụ thể gắn liền với đời sống hàng ngày (tờ rơi, tờ gấp, sách bỏ túi …). Các ấn phẩm, tài liệu tuyên truyền được cung cấp miễn phí và cần gửi đến các Trung tâm tư vấn pháp luật, các Đoàn luật sư, Văn phòng luật sư để người thực hiện tư vấn có thể phát tận tay đối tượng cần tìm hiểu. 

2. Những điều cần lưu ý khi thực hiện:

          a) Về đối tượng được tư vấn kết hợp với việc phổ biến, giáo dục pháp luật: cần tìm hiểu và có thông tin tương đối cụ thể về đối tượng được tư vấn - nhu cầu của họ (cần gì và thiếu cái gì), nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn (nếu có thể).

b) Về chủ đề pháp luật:

Căn cứ vào nhu cầu của đối tượng cần tư vấn, giải đáp pháp luật để kết hợp phổ biến, tuyên truyền những nội dung chính sách, vấn đề pháp luật có liên quan. Nội dung pháp luật cần cụ thể, không quá rộng, lan man hoặc quá cao siêu đối với mức độ hiểu biết của họ, vì như vậy sẽ không có tác dụng.  

c) Về thời gian, không gian, địa điểm, điều kiện kinh tế - xã hội:

Đây cũng là các yếu tố quan trọng cần cân nhắc khi lập kế hoạch và thực hiện việc lồng ghép. Ví dụ: khi tư vấn pháp luật trong vài phút qua điện thoại thì rất khó có thể tranh thủ tuyên truyền pháp luật, khác với việc tư vấn hàng giờ tại trụ sở của Trung tâm tư vấn pháp luật; hoặc các cuộc tư vấn cả ngày, cả buổi tại trụ sở doanh nghiệp; tư vấn tại thành phố, thị trấn sẽ không giống các cuộc tư vấn lưu động tại xã, thôn ở nông thôn, bản làng ở vùng sâu, vùng xa. 

d) Lựa chọn hình thức:

Tư vấn trực tiếp bằng miệng, gián tiếp (qua văn bản: thư trả lời, giải đáp qua báo, đài …), tại chỗ hoặc lưu động, xây dựng các diễn đàn, chuyên mục trên sóng phát thanh, truyền hình v.v…

đ) Yêu cầu đối với người thực hiện:

Khi tư vấn pháp luật hay tuyên truyền pháp luật, cán bộ thực hiện là chủ thể trong một quan hệ xã hội có tính đặc thù, không đơn thuần là giao tiếp xã hội thông thường. Họ không chỉ cần có kiến thức chuyên môn đảm bảo đủ khả năng để phục vụ hoặc cung cấp dịch vụ mà cần có vốn sống, hiểu biết xã hội nhất định và kinh nghiệm ứng xử phù hợp với vị trí của mình trong quan hệ với đối tượng cần được tư vấn, tuyên truyền pháp luật. Sau đây là những tố chất, kỹ năng cần thiết nhất đối với người cán bộ vừa thực hiện tư vấn pháp luật vừa làm công tác tuyên truyền pháp luật: 

- Có kiến thức pháp lý vững vàng: có bột mới gột nên hồ, nếu cán bộ tư vấn không vững về kiến thức pháp luật thì sẽ làm giảm chất lượng tư vấn, tuyên truyền pháp luật, mặt khác, cũng không tự tin khi thực hiện công việc. 

- Thường xuyên tích lũy tư liệu, kiến thức: đời sống xã hội càng phát triển, các văn bản pháp luật trong hầu hết các lĩnh vực được ban hành ngày ngày nhiều, nhu cầu về tư vấn pháp luật ngày càng tăng về số lượng và tính chất phức tạp. Trong bối cảnh đó, cán bộ tư vấn phải không ngừng cập nhật kiến thức pháp luật mới, tìm tòi qua các nguồn thông tin, tài liệu, tích lũy kinh nghiệm để xử lý kịp thời những vấn đề mà công việc đặt ra.

- Có khả năng nói và viết tốt: đây là hai kỹ năng không hoàn toàn do thiên bẩm mà chỉ có được qua quá trình rèn luyện nghiêm túc, rút kinh nghiệm từ thực tế công việc hàng ngày. 

- Nhiệt tình, tâm huyết, tận tụy với công việc: có thể nói đây là một phẩm chất không thể thiếu của những người làm công tác xã hội. Họ đặt mục tiêu phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội lên hàng đầu, dù trên thực tế chế độ lương, phụ cấp, chính sách đãi ngộ còn rất thấp, chưa tương xứng với sự cống hiến của họ.  

- Có khả năng hòa đồng và giao tiếp: Rất nhiều cán bộ tư vấn pháp luật khẳng định rằng, trước khi bắt đầu vào việc tư vấn, cần phải tạo được không khí thân thiện, cởi mở cho người đến yêu cầu tư vấn. Qua những cư xử trong giao tiếp thông thường như chủ nhà tiếp khách (chào hỏi, mời ngồi, pha trà, rót nước,  …), cán bộ tư vấn đã gây được ấn tượng tốt và tin cậy cho khách hàng của mình.  

- Hiểu biết về tâm lý: Không thể tư vấn và tuyên truyền pháp luật một cách hiệu quả nếu thiếu kỹ năng giao tiếp, thiếu hiểu biết về tâm lý của đối tượng mà mình đang phục vụ. Điều này càng quan trọng hơn khi đứng trước một đám đông trong các cuộc tư vấn, tuyên truyền lưu động. Cùng với khả năng thuyết trình thì cán bộ tư vấn, tuyên truyền cần có sự nhanh nhạy nắm bắt tâm lý của đám đông và điều chỉnh ngôn ngữ kịp thời, phù hợp với sự đón nhận và phản ứng của họ. 

- Có vốn sống, am hiểu về văn hóa, phong tục, tập quán: Thông thường, cán bộ tư vấn càng lâu năm thì càng thu được nhiều kết quả tốt trong công việc. Bởi lẽ, họ không chỉ tích lũy được nhiều kiến thức, kinh nghiệm mà còn có bề dày về vốn sống, biết vận dụng sự am hiểu về văn hóa, phong tục, tập quán của các vùng miền, các dân tộc vào phục vụ cho công việc của mình. Đây là điểm rất cần định hướng cho những cán bộ trẻ khi làm công tác xã hội, càng tích lũy vốn sống, tự trau dồi kiến thức về văn hóa sẽ là nền tảng vững chắc giúp họ thành công hơn trong hoạt động nghề nghiệp.  

e) Phương tiện, thiết bị hỗ trợ:

Mặc dù là một phương thức có khả năng chuyển tải mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật, nhưng để có được hiệu quả như mong muốn thì hoạt động tư vấn pháp luật cần có sự kết hợp, hỗ trợ của một vài phương thức tuyên truyền pháp luật khác, ví dụ: nghiệp vụ, kỹ năng truyên truyền miệng, sử dụng băng tiếng, băng hình, tờ rơi, tờ gấp, tài liệu tuyên truyền khác, khai thác tiện ích của các phương tiện truyền thông, hệ thống truyền thanh ở cơ sở…  

3. Một số vấn đề nghiệp vụ

Nhiều người quan niệm rằng phổ biến, giáo dục pháp luật thường chỉ có ý nghĩa trong giai đoạn ban đầu khi một văn bản pháp luật vừa mới được ban hành. Nội dung công việc này hết sức đơn giản, chỉ là phổ biến ý nghĩa và nội dung của các quy định pháp luật mới đó. Tuy vậy, thực tế thời gian qua đã chứng minh là phổ biến, giáo dục pháp luật đã không chỉ vươn tới về bề rộng (càng đông đảo người dân biết luật càng tốt) mà đã bước đầu đi vào chiều sâu nhờ thông qua một số hoạt động gắn liền với quá trình áp dụng pháp luật, ví dụ: hoạt động xét xử của tòa án, thi hành án, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật, hòa giải cơ sở, …

Như vậy, tư vấn pháp luật cũng góp phần vào nhiệm vụ giáo dục pháp luật, hoạt động này có chiều sâu hơn, chứa hàm lượng tri thức nhiều hơn việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật một cách đơn giản, mang tính phổ cập đại trà.

Đối với người tư vấn pháp luật, có thể tham khảo một số gợi ý sau đây để vận dụng vào quá trình tư vấn lồng ghép với phổ biến, giáo dục pháp luật:

a) Tìm hiểu đối tượng được tư vấn và phổ biến, giáo dục pháp luật

- Tiếp cận và tìm hiểu các thông tin liên quan: Để biết một cá nhân, một tổ chức muốn được tư vấn pháp luật về vấn đề gì, cán bộ tư vấn cần tranh thủ các cơ hội có thể để tiếp cận và tìm hiểu đối tượng: qua trao đổi trên điện thoại, qua gặp gỡ trò chuyện tại trụ sở Trung tâm tư vấn pháp luật hoặc tại nhà riêng, tại văn phòng của doanh nghiệp … Cán bộ tư vấn cần đặt các câu hỏi thích hợp với thái độ của đối tượng đến yêu cầu tư vấn, dẫn dắt cuộc trò chuyện, gợi mở từng vấn đề để có những thông tin cơ bản và liên quan trực tiếp đến việc tư vấn. 

- Xác định rõ mục đích, nhu cầu: Sau khi biết được những thông tin cần thiết, cán bộ tư vấn cần khẳng định lần nữa về mục đích và nhu cầu của đối tượng cần tư vấn. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với những công việc tiếp theo của cán bộ tư vấn. Bởi vì, nếu họ hỏi về một vấn đề pháp luật chỉ để biết thì việc tư vấn chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin, giới thiệu về quy định pháp luật, hướng dẫn việc tìm tài liệu pháp luật. Trong trường hợp họ thực sự có vướng mắc pháp luật thì vụ việc phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, chuẩn bị các phương án trả lời trước khi đưa ra ý kiến tư vấn trực tiếp, chính thức cho đối tượng.  

Trong trường hợp nhận được yêu cầu tư vấn bằng văn bản, cán bộ tư vấn có thể tìm hiểu thông tin cụ thể bằng cách gửi văn bản hỏi hoặc liên hệ trực tiếp với đối tượng yêu cầu tư vấn qua điện thoại, hẹn gặp trực tiếp. Thông thường việc yêu cầu tư vấn dưới hình thức văn bản cũng thể hiện tương đối rõ mục đích và nhu cầu tư vấn pháp luật. Nhờ đó, cán bộ tư vấn cũng dễ xác định được nội dung pháp luật cần thiết để tập trung trao đổi về vấn đề đó. Tuy nhiên, không phải mọi đơn thư hay văn bản yêu cầu tư vấn pháp luật đều thể hiện một cách rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu. Cán bộ tư vấn phải biết chọn lọc và tìm ra trúng mục đích, vấn đề chính mà người ta hỏi mình tư vấn.  

b)  Công tác chuẩn bị

- Về nội dung tư vấn và tuyên truyền:

Cần tạo thói quen chuẩn bị cẩn thận, tỉ mỉ về nội dung, tài liệu trước khi thực hiện tư vấn hay phổ biến một quy định pháp luật. Để có thể ứng phó với mọi tình huống, cán bộ tư vấn cần thường xuyên tích lũy kiến thức và kinh nghiệm để có thể tự tin khi trao đổi thông tin một cách trực tiếp; hoặc hẹn trả lời sớm sau khi đã nghiên cứu hồ sơ, tài liệu. Do vậy, nội dung pháp luật được đưa ra tư vấn hay tuyên truyền sẽ đảm bảo tính chính xác cao, thông qua xử lý thông tin của cán bộ tư vấn hoặc có sự trao đổi nghiệp vụ với đồng nghiệp.

- Về lựa chọn hình thức:

Cán bộ tư vấn có thể ở thế chủ động hoặc bị động trong việc lựa chọn hình thức tư vấn pháp luật. Tuy nhiên, dù ở hoàn cảnh nào, cán bộ tư vấn cũng cần lựa chọn cho mình một cách giải thích, hướng dẫn càng đơn giản càng tốt, mang tính thuyết phục nhất giúp cho đối tượng dễ nghe, dễ hiểu và dễ thực hiện. Trong trường hợp tổ chức các cuộc tư vấn và phổ biến, giáo dục tại chỗ hoặc lưu động thì cán bộ tư vấn có vai trò chủ động để đưa ra hình thức tư vấn (thuyết trình, hỏi đáp, đóng vai diễn các tình huống pháp luật, v.v…). 

- Về chuẩn bị phương tiện hỗ trợ:

Tại các cuộc tư vấn kết hợp tuyên truyền pháp luật có vài chục hoặc hàng trăm người tham dự, các thiết bị âm thanh, phương tiện kỹ thuật hỗ trợ là yếu tố không thể thiếu góp phần tăng hiệu quả của cuộc tư vấn đó, ví dụ: loa đài, tivi, máy chiếu, màn hình chiếu, băng, đĩa, sách, tranh ảnh minh họa … 

c) Thực hiện việc cung cấp thông tin, hướng dẫn, giải đáp 

Dù ở mức độ nông hay sâu, rộng hay hẹp thì kết quả của những thao tác trong quá trình tư vấn đã giúp cho một người, một nhóm hay một tổ chức có điều kiện biết đến các quy định pháp luật, một hoặc nhiều văn bản pháp luật về vấn đề đó. Đối với những người đã biết, khi được tư vấn để giải quyết một vướng mắc, vụ việc pháp luật cụ thể thì họ lại có dịp hiểu sâu hơn và biết cách vận dụng quy định pháp luật đó đối với hoàn cảnh cụ thể của mình thế nào.     

d) Sự linh hoạt, tự tin của người tư vấn pháp luật

Để có thể kết hợp việc phổ biến, giáo dục pháp luật qua nội dung tư vấn pháp luật, cán bộ tư vấn cần hết sức linh hoạt, tránh sự gượng ép. Không nên đưa ra những vấn đề quá xa, quá sâu, chẳng có chút liên hệ với nội dung mình đang tư vấn. Đối với một nhóm đối tượng nhất định, ví dụ: người lao động trong 1 khu công nghiệp, phụ nữ nông thôn, thì cán bộ tư vấn pháp luật có thể liên hệ đến một số vấn đề pháp luật thiết thực đối với cuộc sống và công việc hiện tại của họ như: về tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội, đăng ký kết hôn, …

đ) Đánh giá kết quả công việc và rút kinh nghiệm

Một thao tác không thể bỏ qua trong mỗi hoạt động tư vấn hay tuyên truyền pháp luật là phải có sự nhìn lại, đánh giá những việc đã làm xem điều gì đạt được, điều gì chưa được và cần rút kinh nghiệm cho lần sau. Mỗi cán bộ tư vấn có thể tự mình rút ra một số bài học, kinh nghiệm hữu ích từ từng hoạt động hoặc chia sẻ thu hoạch của mình với đồng nghiệp tại các cuộc họp tổng kết để khái quát thành bài học, kinh nghiệm chung.

Tóm lại, kết hợp những nội dung gì để phổ biến pháp luật, lồng ghép những vấn đề gì để giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật cho người dân, cho cơ quan, tổ chức tùy thuộc vào sự nhanh nhạy, linh hoạt của cán bộ tư vấn pháp luật. Cán bộ tư vấn pháp luật cần vận dụng kiến thức pháp luật, sự hiểu biết, kỹ năng về phổ biến, giáo dục pháp luật trong quá trình thực hiện tư vấn pháp luật để hoạt động này càng thêm ý nghĩa và hiệu quả trên thực tế. 

 

8.1.Khái niệm, ý nghĩa về phổ biến giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở   

1. Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở

          Trong cuộc sống hàng ngày, do sự khác biệt về lợi ích kinh tế, quan niệm, nhận thức, lối sống, tính cách… nên việc nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình, giữa các hộ gia đình và giữa các cá nhân với nhau trong cộng đồng dân cư là điều tất yếu không thể tránh khỏi. Có nhiều nguyên nhân, nhưng nhìn chung đều xuất phát từ những điều rất nhỏ, những người trong cuộc thường không đủ tỉnh táo để kiềm chế, chẳng ai chịu nhường ai nếu không giải quyết kịp thời thì "chuyện bé xé ra to", từ tranh chấp thuần tuý dân sự, kinh tế, có thể trở thành vụ án hình sự, gây mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân. Những mâu thuẫn, tranh chấp này có thể giải quyết bằng nhiều hình thức (các bên tự thoả thuận, trọng tài, toà án và hoà giải). Song thực tế, người Việt Nam vốn coi trọng tình cảm, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái luôn là nền tảng để giải quyết mọi việc. Nên khi có mâu thuẫn, xích mích xảy ra nhân dân ta đã biết hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp tự thương lượng, điều đình "chín bỏ làm mười", vì " một điều nhịn, chín điều lành"…để giải toả những bất đồng, mâu thuẫn giữa họ. Hoạt động này được gọi là hoà giải ở cơ sở. Ngày nay, mặc dù dưới tác động của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống kinh tế - xã hội của người Việt Nam đang có những biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ song hoạt động hoà giải vẫn tồn tại và ngày càng phát huy.

       Một thực tế hiện nay, dù trình độ dân trí đã từng bước được nâng cao, song nhìn chung trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân ta còn thấp, đặc biệt là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn ảnh hưởng nhiều phong tục tập quán, hương ước làng xã...nên trong cuộc sống  hàng ngày nhiều người còn có những xử sự có tính chất tự phát không đúng pháp luật, không phù hợp với đạo lý, văn hóa truyền thống dẫn đến vi phạm pháp luật hoặc những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ không đáng có. Bởi vậy, việc hướng dẫn, giải thích các quy định pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho các bên tranh chấp và những người có liên quan trong quá trình hòa giải là một trong những hình thức quan trọng và thiết thực. Hoà giải viên, trong khi tiến hành hoà giải có thể lồng ghép các nội dung pháp luật có liên quan đến việc hòa giải để phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân.

          Như vậy, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở là việc các Hoà giải viên bằng hoạt động hoà giải của mình hướng dẫn, giải thích và cung cấp các kiến thức pháp luật, tình cảm pháp luật cho các bên tranh chấp và những người khác trong cộng đồng dân cư nhằm mục đích hình thành ở họ sự hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật và thói quen hành động theo pháp luật.

2. Ý nghĩa của việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở được thể hiện qua các khía cạnh sau:

         - Thứ nhất: Hoà giải viên là người trực tiếp, giữ vai trò trung tâm trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải hoặc những người được Hoà giải viên mời tham gia hoà giải. Hoà giải viên là những người có uy tín, hiểu biết pháp luật, có kinh nghiệm sống, nhiệt tình, sống gần gũi với các bên tranh chấp với nhân dân hiểu được gia cảnh mỗi gia đình, nắm được phong tục tập quán ở địa phương nên có ảnh hưởng nhất định đối với các bên tranh chấp. Bởi vậy, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật mà họ tiến hành là rất phù hợp với đối tượng cụ thể,  dễ đi vào lòng người và có hiệu quả.

       - Thứ hai: Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật qua hoạt động hoà giải ở cơ sở rất rộng, khác với đối tượng trong trợ giúp pháp lý (là người nghèo và đối tượng chính sách). Đó là các bên tranh chấp, những người trong gia đình họ và những người trong cộng đồng dân cư (hàng xóm láng giềng, bạn bè của các bên tranh chấp…). Những người này đều rất quan tâm đến vụ việc tranh chấp, đến việc vận dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp; và hậu quả sẽ xảy ra nếu các bên tranh chấp không thực hiện. Vì vậy, việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở dễ đi vào lòng người phù hợp với đối tượng và rất có hiệu quả.

        -Thứ ba: Lực lượng Hoà giải viên rất đông đảo có mặt ở từng thôn, xóm, làng, bản, tổ dân phố, cụm dân cư sống gần gũi với nhân dân, nên mỗi khi xảy ra xích mích, tranh chấp, vi phạm pháp luật nhỏ trong nhân dân họ kịp thời đến giải quyết các tranh chấp ngay từ khi mới xảy ra, không để vụ việc tranh chấp kéo dài, phức tạp bằng việc hoà giải, thuyết phục, giải thích, phân tích đúng, sai trên cơ sở "có tình, có lý" cho các bên tranh chấp, kết hợp với việc phổ biến, giải thích các điều luật có liên quan đến vụ việc tranh chấp, qua đó hướng dẫn các bên tự giải quyết vụ việc.

        - Thứ tư: Thông thường chỉ những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ của mình thì các bên tranh chấp, những người liên quan đến các bên tranh chấp mới quan tâm, tìm hiểu các văn bản pháp luật, tìm đến cán bộ trợ giúp pháp lý, luật sư và nhất là Hoà giải viên để nhờ hướng dẫn, giải thích, giúp đỡ. Các tranh chấp, vi phạm pháp luật nhỏ thuộc phạm vi hoà giải không chỉ phát sinh từ một mối quan hệ xã hội mà có thể phát sinh từ mọi quan hệ xã hội : quan hệ gia đình; quan hệ làng xóm, bạn bè, quan hệ tài sản,…Vì thế, khi tiến hành hoà giải, Hoà giải viên có thể lồng ghép nhiều lĩnh vực pháp luật như : pháp luật dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật đất đai, pháp luật hôn nhân và gia đình…để phổ biến, giáo dục pháp luật cho các bên tranh chấp hiểu về quyền và nghĩa vụ của công dân đối với gia đình, quê hương, đất nước.

        - Thứ năm: Việc phổ biến giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải góp phần giữ gìn tình làng, nghĩa xóm; ngăn ngừa mầm mống phát sinh tội phạm hình sự; hạn chế đơn thư khiếu kiện của dân; tiết kiệm công sức, tiền bạc của Nhà nước và nhân dân; củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối, chính sách của đảng, pháp luật của Nhà nước, giữ gìn kỷ cương xã hội, tạo lập môi trường thuận lợi để phát triển sản xuất, phát huy dân chủ và thực hiện công bằng xã hội ở cơ sở.

 

 

8.2.Phương thức thực hiện PBGDPL thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở   

        Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoà giải khác với tuyên truyền miệng về pháp luật ở chỗ chỉ khi nào có vụ việc vi phạm pháp luật hoặc tranh chấp nhỏ xảy ra thì Hoà giải viên mới có lý do để tiến hành hoà giải và kết hợp với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho các bên tranh chấp và những người có liên quan. Vì vậy, phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở đây là phương thức tác động trực tiếp từ chủ thể giáo dục (Hòa giải viên) đến đối tượng giáo dục (các bên tranh chấp và những người khác) với nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật xác định, gắn liền với từng tranh chấp cụ thể... Do đó, Hòa giải viên có thể lựa chọn phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với từng đối tương.

          Để thực hiện tốt phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở, Hoà giải viên cần thực hiện các bước sau đây:

       Bước 1. Trực tiếp nắm rõ nội dung tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và yêu cầu cụ thể của các bên tranh chấp, kết hợp việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật  .

        - Khi có mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra, Hòa giải viên phải có mặt kịp thời nắm rõ nội dung tranh chấp, tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp để thực hiện công tác hoà giải. Việc nắm rõ nguyên nhân phát sinh tranh chấp sẽ tạo điều kiện để Hoà giải viên có phương pháp hoà giải đúng, vận dụng, viện dẫn, các điều luật phù hợp với nội dung tranh chấp xảy ra đồng thời có căn cứ giải thích, hướng dẫn, thuyết phục các bên tranh chấp hiểu được hành vi của mình đúng hay sai, vi phạm pháp luật hay không vi phạm pháp luật…để các bên hiểu và tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của địa phương.

          Trong khi tiến hành hòa giải, trường hợp các bên tranh chấp có yêu cầu về cung cấp, giới thiệu các văn bản pháp luật liên quan đến tranh chấp, mâu thuẫn này để họ nghiên cứu, xem xét thì Hoà giải viên giúp đỡ, hoặc hướng dẫn các bên tranh chấp hiểu đúng tinh thần của văn bản pháp luật. Nếu gặp những vấn đề khó, Hoà giải viên cần hỏi ý kiến các chuyên gia, cán bộ Tư pháp…đảm bảo sao cho các quy định pháp luật, quy phạm đạo đức vận dụng vào vụ việc tranh chấp là đúng, chính xác. Trong bước này, Hoà giải viên có thể khéo léo lồng ghép với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho các bên tranh chấp hiểu về quyền và nghĩa vụ của họ giúp họ hiểu đúng và tự giác thực hiện pháp luật. Ví dụ : Đối với trường hợp mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình liên quan đến thừa kế, Hòa giải viên phải xem xét các quy định của Bộ Luật Dân sự liên quan đến thừa kế như quyền thừa kế của cá nhân, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người hưởng thừa kế; giá trị của di chúc; thủ tục lập di chúc, những quy định của thừa kế theo pháp luật;...thông qua các quy định này Hòa giải viên khéo léo kết hợp với việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật gắn với việc thực, người thực nên dễ đi vào lòng người và rất có hiệu quả.

          - Bước 2.: Xác định tính chất của tranh chấp, lựa chọn văn bản có liên quan đến tranh chấp để vận dụng các quy định đó vào việc giải quyết tranh chấp..

          Sau khi nắm rõ nội dung tranh chấp, Hoà giải viên cần tìm hiểu xem quan hệ tranh chấp này được văn bản pháp luật nào điều chỉnh? Đây là một công việc khó, đòi hỏi Hoà giải viên phải lựa chọn đúng điều luật để áp dụng vào vụ việc tranh chấp này. Nếu lựa chọn sai điều luật điều chỉnh có thể dẫn đến việc phổ biến, giáo dục pháp luật không đúng và chắc chắn là việc hoà giải các bên tranh chấp không thành công. Vì thế, để lựa chọn các văn bản pháp luật phù hợp Hoà giải viên phải căn cứ vào tính chất của tranh chấp. Ví dụ : Đối với các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp, Hoà giải viên phải lựa chọn, áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình vào từng trường hợp cụ thể để giải quyết các vấn đề đặt ra.

         - Đối với tranh chấp, mâu thuẫn giữa các cá nhân, các gia đình trong quan hệ xóm giềng liên quan đến sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ thì hòa giải viên phải xem xét các quy định của Bộ Luật dân sự về tài sản và quyền sở hữu tài sản, về quyền sở hữu chung của cộng đồng; nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản; quyền mắc đường dây tải điện, quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác...

          Ở bước này, khi đã rõ văn bản điều chỉnh cho vụ tranh chấp này, Hoà giải viên tổ chức cho các bên tranh chấp gặp nhau để thảo luận, giải quyết tranh chấp. Lúc này Hoà giải viên có thể đối chiếu, phân tích các quy định của pháp luật về vấn đề mà các bên đang tranh chấp cần biết, cần hiểu để họ tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với pháp luật. Đây không phải là công việc dễ dàng bởi rất nhiều quy định trong văn bản pháp luật còn chung chung, khó hiểu hoặc hiểu theo nhiều cách khác nhau. Bởi vậy, Hòa giải viên phải lưu ý các vấn đề sau:

        + Ưu tiên áp dụng quy định trong văn bản có giá trị pháp lý cao;

        + Không nên giải thích pháp luật theo suy diễn chủ quan của mình.

        Trong trường hợp gặp những quy định pháp luật khó hiểu, hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau cần tham khảo ý kiến của các chuyên gia pháp luật để được hướng dẫn, giải thích đúng và đầy đủ.

        - Bước 3. Hòa giải viên cần gặp gỡ từng bên tranh chấp để hòa giải kết hợp với việc giải thích pháp luật giúp họ nhận thức được các quyền và nghĩa vụ của mình.

         Khi gặp gỡ từng bên tranh chấp, Hòa giải viên cần lựa chọn thời điểm thích hợp để trao đổi, hướng dẫn thuyết phục các bên tranh chấp, việc lựa chọn thời điểm thích hợp có thể vào buổi tối, ngày nghỉ, ngày lễ,...sẽ tạo tâm lý thỏa mái giúp họ dễ tiếp thu ý kiến đóng góp và bình tĩnh phân tích sự việc hơn. Trong quá trình trao đổi, Hòa giải viên phải kiên nhẵn lắng nghe ý kiến, hiểu tâm lý của các bên tranh chấp, cố gắng không dùng lời lẽ khó hiểu, thuật ngữ pháp lý chuyên ngành mà bằng lời giải thích pháp luật giản đơn, dễ hiểu, đi thẳng vào vấn đề, sau cùng dùng lời lẽ phân tích cho họ thấy các quy định của pháp luật liên quan đến tranh chấp, để mỗi bên tranh chấp nhận thức được cái đúng, cái sai của mình và đi đến phương án giải quyết phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân.

          Trong trường hợp cần thiết Hòa giải viên có thể cung cấp cho đối tượng những thông tin chính xác để xóa bỏ những quan điểm lệch lạc, sai trái, phiến diện, giúp đối tượng hiểu đúng, lựa chọn đưa ra những quyết định cụ thể, đúng đắn phù hợp với pháp luật. Trường hợp, một trong hai bên tranh chấp có thái độ gay gắt, nóng nảy, bất hợp tác, hòa giải viên phải bình tĩnh, lắng nghe ( không ngắt lời, khó chịu, sốt ruột...), giữ thái độ bình tĩnh, đúng mực, tỏ ra thông cảm, quan tâm đến yêu cầu của đối tượng...đồng thời, lựa chọn phương án xử lý linh hoạt, tiếp tục hòa giải hay để vào dịp khác nhằm giải tỏa không khí bớt căng thẳng mà mục tiêu của  hòa giải vẫn đạt được. 

          Trong trường hợp, khi hòa giải nếu có những quy định pháp luật khó hiểu, Hòa giải viên có thể đối chiếu, phân tích các quy định của pháp luật về các vấn đề đang tranh chấp, lấy ví dụ minh hoạ, liên hệ với những sự việc đã xảy ra ở địa phương mà các bên tranh chấp cũng biết rõ. Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Hòa giải viên có thể nêu các phương án giải quyết của mình để các bên tham khảo.

       - Bước 4. Tổ chức cho các bên tranh chấp gặp gỡ để thảo luận với nhau việc giải quyết tranh chấp.

       Sau khi gặp gỡ từng bên, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của các bên về việc giải quyết tranh chấp, Hòa giải viên tổ chức cho các bên gặp nhau để thỏa thuận, thống nhất phương án giải quyết tranh chấp.

       Khi tiến hành hòa giải các bên tranh chấp, Hòa giải viên cố gắng duy trì không khí hiểu biết, thái độ hợp tác của họ. Để tạo thuận lợi cho việc hòa giải, Hòa giải viên có thể nêu từng vấn đề đang tranh chấp và đề nghị từng bên cho ý kiến giải quyết. Tùy điều kiện cụ thể, Hòa giải viên có thể đối chiếu, phân tích các quy định của pháp luật về các vấn đề các bên đang tranh chấp để các bên hiểu và có thể áp dụng  giải quyết tranh chấp. Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Hòa giải viên có thể nêu các phương án giải quyết của mình để các bên tham khảo. Khi các bên thống nhất được cách thức giải quyết tranh chấp, nếu cần thiết, Hòa giải viên có thể giúp các bên tranh chấp lập văn bản ghi nhận sự thỏa thuận của các bên làm cơ sở cho việc thi hành sau này.

       Như vậy, trong khi tiến hành hòa giải các bên tranh chấp, Hòa giải viên có rất nhiều cơ hội để lồng ghép việc phổ biến, giáo dục pháp luật, nhấn mạnh những quy định mấu chốt của pháp luật nếu các bên tranh chấp nghiêm chỉnh trong ứng xử của mình thì sẽ tránh được tranh chấp xảy ra. Đồng thời, qua đó các bên tranh chấp và những người có liên quan có thể được nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức tôn trọng pháp luật từ đó hạn chế những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ xảy ra./.

 

8.3.Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả PBGDPL trong công tác hoà giải ở cơ sở   

         Trong tình hình hiện nay, việc nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ và nhân dân ngày càng được coi trọng. Phổ biến, giáo dục pháp luật qua hoạt động hoà giải ở cơ sở là một trong các hình thức tuyên truyền, đơn giản, thiết thực và hiệu quả.  Để phát huy vai trò tích cực của loại hình này cần tiến hành các giải pháp sau đây: 

1. Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ Hoà giải viên.

         Đây là nhiệm vụ quan trọng, phải được thực hiện thường xuyên để nâng cao nhận thức cho các Hòa giải viên về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội và nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải, vì thế hàng năm, tư pháp các cấp cần có kế hoạch tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ Hòa giải viên. Việc tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật có thể tổ chức định kỳ mỗi năm ít nhất 1 lần, hoặc tổ chức theo chuyên đề để cập nhập kịp thời những văn bản pháp luật mới vừa được thông qua, các văn bản pháp luật này liên quan chặt chẽ đến đời sống nhân dân địa phương. Nội dung tập huấn nên xây dựng mềm dẻo, linh hoạt và phù hợp với đặc thù công tác hoà giải ở địa phương. Có thể tập huấn về kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải và phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở hoặc giới thiệu các quy định của pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt động hoà giải ở cơ sở.

2. Tổ chức các hội thi tìm hiểu pháp luật, hội thi hoà giải viên giỏi, tuyên truyền viên pháp luật giỏi với những nội dung phong phú, đa dạng và sinh động

         Các hội thi tìm hiểu pháp luật, hội thi hòa giải viên là một trong các hoạt động tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật có sức hấp dẫn và hiệu quả, thông qua các hội thi những nội dung pháp luật được truyền tải đến các đối tượng một cách đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, sinh động hơn, tránh được sự cứng nhắc, khô khan; đối tượng của hội thi rất rộng rãi, tiếp nhận các kiến thức pháp luật một cách thỏa mái và hoàn toàn chủ động qua đó khả năng áp dụng pháp luật của đối tượng được nâng cao. Vì vậy, pháp luật có điều kiện lan tỏa, phát huy rộng rãi trong cuộc sống người dân.

        Các hội thi này một mặt khuyến khích, động viên phong trào hoà giải trong cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng, mặt khác còn là dịp tốt để các Hoà giải viên gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm hoạt động hoà giải. Ngoài ra, có thể tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên môn định kỳ cho các Hoà giải viên, đưa công tác hoà giải lồng vào các hoạt động phong trào khác của địa phương, như: phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống văn hóa ở khu dân cư; phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa; phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, trật tự an toàn xã hội...

3. Cung cấp tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, tài liệu pháp luật  cho đội ngũ Hoà giải viên.

        Việc cung cấp thông tin pháp luật, tài liệu văn bản pháp luật là một trong những  nhiệm vụ quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở. Tài liệu nghiệp vụ, tài liệu pháp luật có thể gồm các đề cương tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật; Sổ tay nghiệp vụ hoà giải; báo chí về pháp luật; Sách hỏi - đáp pháp luật phổ thông; tờ rơi, tờ gấp và các tài liệu cần thiết khác. Vì vậy, các cơ quan tư pháp ở địa phương cần có kế hoạch và biện pháp cụ thể để cung cấp đầy đủ các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động hoà giải ở cơ sở cho các Tổ hoà giải. Cần đẩy mạnh công tác xây dựng, quản lý tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn để có nguồn văn bản cho các Hoà giải viên.

4. Tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết hay toạ đàm trao đổi kinh nghiệm về hoạt động hoà giải ở cơ sở và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải.

         Đây là công việc cần thiết phải làm thường xuyên, một mặt theo dõi tổng hợp, đánh giá về tổ chức và đội ngũ Hòa giải viên của các Tổ hòa giải, mặt khác đây còn là diễn đàn để các Hoà giải viên có thể trao đổi kinh nghiệm, học tập lẫn nhau, giúp nhau tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn công tác hoà giải. Đồng thời, qua việc sơ kết, tổng kết về hoạt động hòa giải ở cơ sở giúp chính quyền địa phương có điều kiện hiểu rõ những thuận lợi, khó khăn, kết quả cũng như kiến nghị về công tác hòa giải nói riêng và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung.

5. Bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở và phổ biến, giáo dục pháp luật.

        Để nâng cao vai trò và hiệu quả của công tác hòa giải ở cơ sở trong tình hiện nay. Ngày 05/8/2005 Bộ Tài chính đã có Thông Tư số 63/2005/TT-BTC hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Căn cứ vào điều kiện kinh tế cụ thể của địa phương và Thông tư số 63 nêu trên, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo UBND cấp huyện, cấp xã dành khoản kinh phí nhất định để chi cho các hoạt động hòa giải như: kinh phí cho việc kiện toàn tổ chức; bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải; sơ kết, tổng kết thi đua khen thưởng công tác hòa giải; tài liệu nghiệp vụ cho hòa giải viên; tổ chức thi Hòa giải viên giỏi; chế độ thù lao cho Hòa giải viên;.. nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở địa phương.


LƯU Ý: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

                                                                  P. PBGDPL

 

I. Vị trí, vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở xã, phường, thị trấn:

1. Khái niệm:

Phổ biến, giáo dục pháp luật là một hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên, nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành.

Công tác PBGDPL là công tác, bao gồm tất cả các công đoạn như định hướng công tác PBGDPL, xây dựng chương trình, kế hoạch PBGDPL; triển khai chương trình, kế hoạch PBGDPL thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp PBGDPL; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện PBGDPL.

2. Vị trí của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:

   Công tác PBGDPL được xác định là một trong những công tác trọng tâm của hoạt động hành pháp và tư pháp. Công tác PBGDPL là khâu đầu tiên của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống. Quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu từ chính các hoạt động PBGDPL. Việc thực hiện pháp luật dù dưới bất kỳ hình thức nào - tuân thủ, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật hay áp dụng pháp luật đều yêu cầu phải có hiểu biết pháp luật.

   PBGDPL là mắc xích quan trọng góp phần nâng cao vai trò và hiệu lực của pháp luật trong hoạt động quản lý Nhà nước và trong đời sống xã hội. Vì vậy, có thể coi PBGDPL là đòi hỏi khách quan bắt nguồn từ lợi ích nhà nước, của xã hội và mọi thành viên trong xã hội; là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và mọi công dân.

3. Vai trò chủ yếu của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:

   - Góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

- Góp phần nâng cao ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của công dân.

4. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở xã, phường, thị trấn:

Cấp xã là cấp hành chính cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể quản lý nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội…trên một địa bàn nhất định. Dưới góc độ quản lý nhà nước thì xã, phường, thị trấn là nơi diễn ra các quan hệ pháp luật phát sinh trên địa bàn, là nơi người dân sinh sống, lao động và thực hiện các nghĩa vụ cơ bản đối với nhà nước cũng như hưởng các quyền, lợi ích do pháp luật quy định cho họ. Như vậy, ngay trên địa bàn, người dân tiếp cận pháp luật, tìm hiểu pháp luật và chấp hành pháp luật với tư cách là chủ thể trong các quan hệ pháp lý cụ thể.

Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, thường xuyên tiếp xúc với dân, là nơi có thể hiểu, nắm được tâm tư, tình cảm, ý chí, nguyện vọng của dân, cũng là nơi trực tiếp tổ chức vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo nhân dân trực tiếp tổ chức cuộc sống. Do đó, việc triển khai công tác PBGDPL ở xã, phường, thị trấn là con đường gần nhất, có hiệu quả nhất để đưa pháp luật đến nhân dân.

Do đó, việc triển khai thực hiện công tác PBGDPL ở xã, phường, thị trấn có vai trò rất quan trọng trong quá trình thực hiện công tác PBGDPL nói chung, đồng thời là con đường gần nhất đưa pháp luật đến nhân dân. Công tác PBGDPL ở xã, phường, thị trấn ngoài các yêu cầu chung còn phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể như sau:

   - PBGDPL phải phù hợp và phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương: Đây là yêu cầu quan trọng trong việc thực hiện công tác PBGDPL ở cấp xã. Sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội ở mỗi địa bàn gắn liền với việc nâng cao trình độ mọi mặt, trong đó có kiến thức pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của người dân. Do đó, việc PBGDPL phải được gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội … của địa phương thì mới phát huy tác dụng và thực sự có hiệu quả.

- Lựa chọn hình thức và nội dung PBGDPL phù hợp địa bàn, đối tượng: Việc triển khai công tác PBGDPL chỉ có thể đạt hiệu quả khi nó phù hợp với những đặc thù riêng của từng địa bàn. Cán bộ làm công tác PBGDPL ở xã, phường, thị trấn cần nắm bắt nhu cầu tìm hiểu pháp luật của nhân dân ở địa bàn để từ đó xác định những nội dung pháp luật cần phổ biến. Do tính đa dạng của thực tiễn cuộc sống, sự phong phú trong nhận thức và hành vi của mỗi người mà các hình thức PBGDPL cần phải được tìm tòi, đổi mới cho phù hợp với đối tượng, với địa bàn cơ sở.

PBGDPL phải đảm bảo trang bị cho nhân dân những kiến thức pháp luật cơ bản về các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày: Nội dung pháp luật phổ biến cho nhân dân phải ngắn gọn, dễ hiểu, cụ thể. Nội dung PBGDPL cho nhân dân ở xã, phường, thị trấn chủ yếu là phổ biến các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, tập trung vào các văn bản pháp luật mới được ban hành, các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của công dân, của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội; các văn bản pháp luật liên quan đến nhiệm vụ chính trị của địa phương, phong trào quần chúng, hoạt động và sinh hoạt hàng ngày của nhân dân. Đồng thời, tuyên truyền về các hoạt động thực hiện và bảo vệ pháp luật ở địa phương; nêu gương người tốt, việc tốt trong thực hiện và chấp hành pháp luật, qua đó vận động nhân dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

- Công tác PBGDPL phải được tiến hành thường xuyên, liên tục; đồng thời có trọng tâm, trọng điểm: Công tác PBGDPL là loại hình hoạt động tác động lên ý thức con người; nội dung cần tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đa dạng, hệ thống luật pháp không ngừng được bổ sung và hoàn thiện nên việc PBGDPL phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, tránh tình trạng hình thức, làm theo phong trào. Công tác này cũng không nên làm tràn lan mà phải có trọng tâm, trọng điểm trong từng giai đoạn nhằm đạt kết quả cụ thể trên đối tượng, lĩnh vực đã xác định.

Công tác PBGDPL phải gắn với việc tổ chức thực hiện pháp luật và các phong trào quần chúng ở địa phương. Việc PBGDPL kết hợp, lồng ghép với thông tin về việc xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm pháp luật; biểu dương gương người tốt, việc tốt trong thi hành, chấp hành pháp luật có tác động tích cực đến ý thức, tình cảm, hành vi pháp luật của đối tượng được tuyên truyền, phổ biến.

   - Công tác PBGDPL ở xã, phường, thị trấn cần hướng vào vận động nhân dân chấp hành pháp luật: Đây vừa là mục đích vừa là biện pháp thực hiện công tác PBGDPL. Điều này đòi hỏi các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể phải phối hợp chặt chẽ trong PBGDPL, vận động nhân dân chấp hành pháp luật; phải có những hình thức tuyên truyền, vận động phù hợp với từng địa bàn, từng đối tượng và tiến hành ngay từ cơ sở, từ khu dân cư, từ mỗi gia đình đến từng cá nhân. Vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở cần phải được phát huy hơn nữa trong tham gia PBGDPL, vận động nhân dân chấp hành pháp luật, đồng thời, cũng cần quan tâm xây dựng các mô hình, nhóm của cộng đồng tham gia phổ biên và vận động nhân dân chấp hành pháp luật ở địa bàn dân cư.

5. Nhiệm vụ của công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:

Theo Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp huyện và công tác tư pháp của UBND cấp xã, trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã có các nhiệm vụ sau:

Tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý, khai thác, sử dụng Tủ sách pháp luật ở cấp xã.

Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, bồi dưỡng, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho tổ viên Tổ hoà giải trên địa bàn theo sự hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên.

Để hoàn thành được các nhiệm vụ trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, mỗi công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã cần không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật, tích lũy kinh nghiệm để phục vụ cho việc tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn có hiệu quả. Trong điều kiện các lợi ích vật chất, các chế độ hỗ trợ cho việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã còn rất hạn hẹp, đòi hỏi người cán bộ tư pháp phải tâm huyết với công việc, chủ động, tích cực, kiên trì, không quản ngại khó khăn, sáng tạo ra các hình thức, biện pháp thiết thực, có hiệu quả để đưa pháp luật đến với nhân dân, đi sâu, đi sát cơ sở, tìm hiểu nắm bắt thực tế thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nhu cầu tìm hiểu pháp luật của nhân dân, phát hiện những gì chưa làm được hoặc làm chưa tốt để có biện pháp tháo gỡ, khắc phục, đưa công tác  phổ biến, giáo dục pháp luật phục vụ tốt hơn việc nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ và nhân dân, góp phần giữ gìn an ninh, ổn định trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn.

Bên cạnh đó, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cấp xã cần tranh thủ sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên kịp thời của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, cơ quan tư pháp cấp trên; đồng thời phát huy tính chủ động trong tham mưu, đề xuất thực hiện tốt vai trò giúp UBND cấp xã xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch PBGDPL; đồng thời thực sự là đầu mối gắn kết giữa các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức, đoàn thể trong hoạt động PBGDPL. Bởi ngoài các điều kiện hỗ trợ khách quan, chính sự chủ động, nỗ lực của cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trong thực hiện công tác PBGDPL đã, đang và vẫn sẽ là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này trên địa bàn xã, phường, thị trấn, góp phần khẳng định vị trí quan trọng của cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trong bộ máy chính quyền địa phương.

II. Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay:

Xuất phát từ sự đa dạng của đối tượng, địa bàn, điều kiện kinh tế - xã hội ở từng vùng, từng địa phương, hiện nay có nhiều hình thức PBGDPL, song có 10 hình thức PBGDPL thông dụng nhất. Mỗi hình thức có đặc trưng riêng của mình:

- Phổ biến, giáo dục pháp luật trực tiếp (Tuyên truyền miệng về pháp luật): Đặc tr­ưng chính là dùng lời lẽ trực tiếp truyền đạt nội dung pháp luật cho ngư­ời nghe.

- Phổ biến, giáo dục pháp luật trên các loại hình báo chí và qua mạng l­ưới truyền thanh cơ sở. Đặc trư­ng chính là sử dụng báo nói, báo viết, báo hình để truyền bá nội dung cần phổ biến.

- Biên soạn và phát hành các loại tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật. Đặc trư­ng chính là dùng các ấn phẩm để truyền bá nội dung cần phổ biến.

- Giáo dục pháp luật trong nhà trư­ờng: Đặc trư­ng chính là truyền đạt nội dung pháp luật thông qua các phương pháp sư­ phạm.

- Tổ chức các hình thức thi tìm hiểu pháp luật: Đặc trư­ng chính là vận động khuyến khích đối t­ượng tìm hiểu pháp luật thông qua thi thố tài năng.

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua sinh hoạt của các câu lạc bộ pháp luật: Đối tượng của phổ biến giáo dục pháp luật đồng thời cũng chính là chủ thể của phổ biến giáo dục pháp luật, ở đó mỗi thành viên phát huy tính nhận thức tích cực của mình trao đổi, tranh luận... để mở rộng kiến thức pháp luật của mình.

- Xây dựng, quản lý và khai thác tủ sách pháp luật. Đặc trưng chính là trực tiếp cung cấp tài liệu, thông tin pháp luật cho đối tượng.

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư vấn pháp luật và trơ giúp pháp lý. Đặc trư­ng chính là thông qua việc cung cấp dịch vụ pháp lý, giải đáp pháp luật, hư­ớng dẫn đối tượng ứng xử đúng pháp luật để thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà nâng cao hiểu biết pháp luật cho họ.

- Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở. Đặc trưng chính là thông qua việc giới thiệu văn bản phân tích, hư­ớng dẫn để các bên tranh chấp hiểu văn bản, tự đối chiếu với hành vi của mình và hành vi của phía bên kia để thấy rõ cái đúng, cái sai của cả hai bên, giúp các bên nhận thức pháp luật sâu sắc hơn.

-Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các loại hình văn hoá, văn nghệ đặc biệt là các loại hình sinh hoạt văn hoá truyền thống: Đặc tr­ưng chính là khai thác nghệ thuật biểu đạt của một loại hình văn hoá, văn nghệ để đ­ưa pháp luật tới nhân dân.

Trong đó, hiện nay với đặc thù của các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bình Định thì các hình thức PBGDPL sau đang thể hiện rất có hiệu quả: tuyên truyền miệng pháp luật, PBGDPL thông qua sinh hoạt của các câu lạc bộ pháp luật, xây dựng, quản lý và khai thác tủ sách pháp luật, PBGDPL thông qua hoạt động tư vấn pháp luật và trơ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở,….

III. Kỹ năng tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:

1. Kỹ năng xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật:

   a) Sự cần thiết xây dựng Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật:

   Xây dựng kế hoạch là việc đề ra một cách có hệ thống những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với cách thức, trình tự, thời gian tiến hành cụ thể. Việc xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) xuất phát từ chính những đặc thù của công tác này:

   Thứ nhất, đặc thù về đối tượng cần được PBGDPL: Sự khác nhau về trình độ văn hóa, trình độ nhận thức, nghề nghiệp, lứa tuổi, tín ngưỡng, tôn giáo của các đối tượng cần được PBGDPL ở cấp xã đòi hỏi phải có kế hoạch để xác định nội dung pháp luật, hình thức chuyển tải đến họ cho phù hợp.

   Thứ hai, đặc thù về chủ thể tham gia PBGDPL: Kế hoạch PBGDPL là cơ sở để huy động sự tham gia của các cán bộ chuyên môn UBND xã (cán bộ Văn hóa – Thông tin, địa chính, công an), đại diện Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức, đoàn thể ở cơ sở (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh) và đông đảo người dân (các tổ trưởng dân phố, trưởng thôn, già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong nhân dân) cùng phối hợp với cán bộ tư pháp – Hộ tịch triển khai công tác PBGDPL ở địa phương.

   Thứ ba, công tác PBGDPL đòi hỏi tính tổ chức cao, cần được triển khai kịp thời, thường xuyên, liên tục và yêu cầu kết hợp giữa việc triển khai đại trà với việc thực hiện có trọng tâm, trọng điểm.

   Từ những đặc thù nêu trên, có thể thấy việc xây dựng kế hoạch PBGDPL là hết sức cần thiết:

   + Việc xác định rõ đối tượng, nội dung, hình thức, biện pháp, tiến độ và phân công thực hiện cụ thể, kế hoạch PBGDPL góp phần triển khai công tác PBGDPL được thường xuyên, liên tục, khắc phục tình trạng tùy tiện, lúc làm, lúc bỏ.

   + Trong khi phải thực hiện cùng lúc các nhiệm vụ giúp UBND xã quản lý nhà nước về công tác tư pháp trong phạm vi địa phương, kế hoạch PBGDPL tạo điều kiện cho cán bộ Tư pháp – Hộ tịch chủ động hơn trong tổ chức thực hiện công việc.

   + Kế hoạch PBGDPL cũng là cơ sở để UBND cấp xã bố trí kinh phí cho công tác này.

   + Kế hoạch PBGDPL là căn cứ để kiểm tra, đánh giá, khen thưởng việc thực hiện nhiệm vụ PBGDPL ở địa phương trong từng giai đoạn.

   b) Yêu cầu và căn cứ xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật:

   - Yêu cầu đối với kế hoạch PBGDPL:

   Kế hoạch PBGDPL ở cấp xã trong từng giai đoạn cần phải bảo đảm các yêu cầu sau: Kế hoạch PBGDPL phải có mục tiêu, giải pháp, tiến độ cụ thể, sát hợp, có tính khả thi và có hiệu quả. Các nhiệm vụ đặt ra trong kế hoạch PBGDPL cần nhằm kết hợp giải quyết toàn diện các yêu cầu của công tác PBGDPL với các vấn đề trọng tâm của địa phương.

   - Căn cứ xây dựng kế hoạch PBGDPL:

    Kế hoạch PBGDPL ở cấp xã được xây dựng trên một số căn cứ sau: Trên cơ sở chương trình, kế hoạch và sự chỉ đạo, hướng dẫn của UBND cấp trên. Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương trong từng giai đoạn, đặc biệt là tình hình thực tế ở địa phương. Dựa trên nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ, nhân dân địa phương trong từng giai đoạn.

   c) Quy trình xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật:

   - Giai đoạn chuẩn bị:

   Trước khi xây dựng dự thảo Kế hoạch PBGDPL, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cần thực hiện một số công việc chuẩn bị sau đây:

   Lựa chọn loại kế hoạch PBGDPL cần xây dựng: Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch xác định loại kế hoạch PBGDPL cần xây dựng. Ở cấp xã, cần xây dựng kế hoạch PBGDPL hàng năm làm cơ sở cho việc thực hiện công tác PBGDPL. Ngoài ra, tùy theo yêu cầu của đợt tuyên truyền văn bản pháp luật quan trọng hoặc theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương có thể xây dựng các kế hoạch PBGDPL cụ thể khác.

   Xác định căn cứ xây dựng kế hoạch: Tùy thuộc vào loại kế hoạch, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch xác định các căn cứ để xây dựng. Cụ thể là các chương trình, kế hoạch, hướng dẫn của UBND cấp trên trong công tác PBGDPL, các yêu cầu, nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa bàn.

   Xác định mức độ hiểu biết và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ, nhân dân địa phương để đánh giá xem cán bộ và nhân dân ở địa phương hiểu biết pháp luật ở mức độ nào và họ cần tìm hiểu những nội dung gì để khi xây dựng kế hoạch sẽ xác định được những nội dung thích hợp với từng nhóm đối tượng.

   - Xây dựng kế hoạch PBGDPL:

   Xây dựng dự thảo kế hoạch PBGDPL phải đảm bảo về nội dung chính và thể thức trình bày kế hoạch:

   + Nội dung chính của kế hoạch: Mỗi loại kế hoạch PBGDPL có những nội dung cụ thể khác nhau, tuy nhiên cần đảm bảo những nội dung chính sau:

   Mục đích, yêu cầu của Kế hoạch; đối tượng tác động của kế hoạch; nội dung pháp luật cần được phổ biến đến đối tượng; hình thức thực hiện PBGDPL; tiến độ (thời gian) thực hiện; các biện pháp cụ thể.

   + Thể thức trình bày kế hoạch PBGDPL: Kế hoạch PBGDPL của UBND cấp xã là một dạng văn bàn hành chính. Theo quy định tại Thông tư số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản thì Kế hoạch có thể ban hành kèm theo Quyết định hoặc ban hành độc lập. Khi xây dựng kế hoạch PBGDPL, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch phải căn cứ vào các hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản tại Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP.

   - Tổ chức lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo kế hoạch và hoàn chỉnh nội dung kế hoạch: Dự thảo kế hoạch được đưa ra lấy ý kiến đóng góp của các cán bộ, công chức của UBND cấp xã, cán bộ Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức, đoàn thể, những người sẽ trực tiếp tham gia triển khai kế hoạch sau khi được phê duyệt. Sau khi tổng hợp ý kiến đóng góp, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch hoàn chỉnh nội dung bản kê hoạch để trình phê duyệt.

   - Trình lãnh đạo UBND cấp xã phê duyệt kế hoạch (bao gồm kế hoạch nội dung và dự toán kinh phí thực hiện)

2. Kỹ năng phối hợp tổ chức triển khai thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:

Xuất phát từ đặc thù của công tác PBGDPL là một hoạt động có nhiều chủ thể, nhiều đối tượng, nhiều nội dung, nhiều hình thức, nhiều biện pháp, cũng như đặc thù của cơ chế quản lý nhà nước về PBGDPL là chỉ đạo và phối hợp, do đó cần phải có sự chỉ đạo thống nhất và sự phối hợp lẫn nhau để không chồng chéo hay bỏ sót đối tượng, địa bàn và nội dung giáo dục pháp luật, nhằm đạt được hiệu quả chung cao nhất.

Công tác PBGDPL ở cấp xã muốn phát huy được tác dụng, có chất lượng và hiệu quả thiết thực tới mọi đối tượng cán bộ, nhân dân, nhất thiết phải có sự phối kết hợp giữa tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn. Sự phối kết hợp này thông qua một đầu mối là Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hoạt động của Hội đồng tạo ra sức mạnh tổng hợp để giải quyết những vấn đề khó khăn trong công tác PBGDPL như phương tiện, tài liệu, kinh phí, báo cáo viên, tuyên truyền viên, nội dung và hình thức tuyên truyền PBGDPL… Trong hoạt động phối hợp này từng thành viên thực hiện công tác PBGDPL theo sự phân công của Hội đồng, thông qua Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng do UBND cấp xã ban hành. 

Ngoài việc phối hợp thực hiện công tác PBGDPL theo cơ chế của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL việc thực hiện công tác PBGDPL còn cần có sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức khác. Sự phối hợp được thực hiện bằng các hình thức, nội dung … phù hợp với đặc điểm của xã, phường, thị trấn như phối hợp song phương, đa phương, theo chức năng chính, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể để đem lại kết quả.

Quan hệ phối hợp có thể xuất hiện do một văn bản quy định hoặc do sáng kiến của một người, một cơ quan nào đó. Những sáng kiến này thường nảy sinh khi có nhu cầu của quản lý nhà nước, khi thực tiễn thi hành pháp luật có yêu cầu hoặc khi có một văn bản pháp luật được ban hành.

   Ở cấp xã, khi các chương trình, kế hoạch PBGDPL được UBND phê duyệt, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cần phối hợp chặt chẽ với các cán bộ, bộ phận, đơn vị được phân công tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch theo đúng đối tượng, nội dung, hình thức, biện pháp và thời gian đã xác định.

   Việc tổ chức triển khai thực hiện công tác PBGDPL là trách nhiệm của hệ thống chính trị cấp xã (Đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể). Tuy nhiên, với chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ quan tư pháp vừa là đầu mối phối hợp, hướng dẫn, chỉ đạo vừa trực tiếp thực hiện công tác PBGDPL. Trọng trách này đã được Bộ trưởng Bộ Tư pháp nêu rõ trong Chỉ thị số 01/1998/CT-BTP ngày 10/1/1998 về một số biện pháp trước mắt để triển khai Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg và Quyết định số 03/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong Ngành Tư pháp. Theo tinh thần của Chỉ thị thì toàn ngành Tư pháp phải đẩy mạnh công tác PBGDPL, coi đây là công tác trọng tâm của toàn ngành trong nhiều năm. Toàn ngành Tư pháp phải phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng và các cơ quan hữu quan khác tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về Chỉ thị và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân về sự cần thiết phải hiểu biết và chấp hành pháp luật, về nội dung, biện pháp PBGDPL.

Trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch PBGDPL, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch có nhiệm vụ:

   + Chủ trì tổ chức các hoạt động, hình thức PBGDPL cho cán bộ, nhân dân trên địa bàn.

   + Thực hiện vai trò là đầu mối phối hợp cán bộ, công chức của UBND cấp xã, cán bộ Mặt trận, đoàn thể ở cơ sở triển khai các hoạt động PBGDPL đến nhân dân.

   + Tham mưu cho UBND cấp xã xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật ở cơ sở mà nòng cốt là các cán bộ Mặt trận, đoàn thể, các tổ trưởng dân phố, trưởng thôn, trưởng bản, già làng; tập huấn kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng tuyên truyền cho các tuyên truyền viên.

   + Giúp Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL cấp xã tổ chức các phiên họp, chuẩn bị các báo cáo và kế hoạch hoạt động của Hội đồng, tổ chức các hoạt động theo kế hoạch của Hội đồng đề ra.

   + Thông tin, báo cáo việc thực hiện công tác PBGDPL ở địa bàn với Chủ tịch UBND cấp xã và với cơ quan tư pháp cấp huyện.

   + Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện kế hoạch.

   + Sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch PBGDPL nhằm rút ra những kinh nghiệm cần thiết để tổ chức thực hiện công tác này ngày càng tốt hơn.

3. Kiểm tra, sơ kết, tổng kết, khen thưởng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:

Đây là một hoạt động không thể thiếu được trong công tác PBGDPL ở xã, phường, thị trấn. Bởi vì, thông qua công tác kiểm tra để nắm tình hình, đanh giá việc thực hiện công tác PBGDPL trên địa bàn, đồng thời rút kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác PBGDPL. Sơ kết, tổng kết nhằm đánh giá việc thực hiện công tác PBGDPL, từ đó có biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động; công tác khen thưởng phải được làm thường xuyên để động viên, khích lệ những điển hình tốt, phát huy kết quả đạt được, khơi dậy phong trào thi đua thực hiện tốt công tác PBGDPL trên địa bàn xã, phường, thị trấn./.

 

 

Tin liên quan

GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG(17/03/2020 3:12:11 CH)

Quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp(04/04/2019 10:22:40 SA)

Báo cáo tình hình thi hành pháp luật để chuẩn bị làm việc với Đoàn kiểm tra liên ngành của Trung ương(12/07/2018 2:23:32 CH)

Hướng dẫn thực hiện theo dõi tình hình thi hành pháp luật đối với lĩnh vực trọng tâm năm 2018(10/07/2018 9:45:00 SA)

V/v hướng dẫn thực hiện chế độ thống kê về công tác Tư pháp 6 tháng đầu năm 2016(28/04/2016 10:06:09 SA)

Tin mới nhất

Tuyên truyền Kế hoạch số 3303/KH-UBND ngày 30/4/2026 của UBND tỉnh Lai Châu (25/05/2026 10:15:32 SA)

Một số quy định mới về tố cáo(22/05/2026 3:53:27 CH)

Quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tư pháp(22/05/2026 2:46:40 CH)

Thông báo về việc tiếp tục bán hồ sơ mời tham gia đấu giá quyền sử dụng đất xã Tân Uyên(22/05/2026 11:38:40 SA)

Danh mục văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành năm 2026(21/05/2026 4:34:51 CH)

Quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tư pháp

Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 của Chính phủ về Quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã

Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15

Nghị định số 124/NQ-CP ngày 08/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế khu vực biên giới đất liền

Quyết định số 840/QĐ-TTg ngày 13/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến 2045

Công văn số 431/TTg-KGVX ngày 22/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục chăm lo tốt đời sống người có công nhân dịp kỷ niệm 51 năm, ngày Giải phóng miền năm thống nhất đất nước

Kế hoạch Triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Lịch tiếp công dân thường xuyên tháng 5 năm 2026 của Sở Tư pháp

Lịch tiếp công dân tháng 5 năm 2026 của Giám đốc Sở Tư pháp

Quyết định quy hoạch chung xã Hua Bum, Nậm Hàng

Triển khai thực hiện Quy hoạch tỉnh Lai Châu điều chỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Thông báo công khai việc Đấu giá tài sản

Kế hoạch số 2831/KH-UBND ngày 16/4/2026 về Triển khai, thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ và Chương trình hành động số 19-CTr/TU ngày 03/4/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam

Kế hoạch triển khai "Tháng hành động vì an toàn thực phẩm" năm 2026

Lịch tiếp công dân tháng 4 năm 2026 của Giám đốcTrung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ TƯ PHÁP TỈNH LAI CHÂU
Địa chỉ: Tầng 3 - Nhà E - Trung tâm hành chính, chính trị tỉnh
Điện thoại: 02133.798.666 - Fax: 02133.798.666
Email: bbt.sotuphap@gmail.com
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Trần Quốc Khanh - Giám đốc Sở Tư pháp
Ghi rõ nguồn www.sotp.laichau.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website.
Đăng nhập
Chung nhan Tin Nhiem Mang
top
down